Thứ Hai, 9 tháng 3, 2009

NHỮNG CON NGƯỜI KHÔNG LÀM TÔI THẤT VỌNG




Tôi luôn luôn có một niềm tin mãnh liệt vào những nhân vật của mình. Tin vào phẩm giá của họ, tin vào những điều họ kể, tin ngay từ lần tiếp cận đầu tiên cho đến khi đặt một dấu chấm cuối bài viết. Và, chưa bao giờ họ làm tôi thất vọng, dù thời gian trôi qua với bao nhiêu vật đổi sao dời. Ít ra là đến giờ phút nầy, khi tôi ngoái nhìn lại họ.

Cách nay gần mười năm, khi bút ký Hồ Sơ Một Vết Thương đăng trên báo Văn Nghệ, chị Dạ Ngân gởi mail cho tôi nói, có một nữ sinh viên du học bên Anh, cô về Hà Nội nghỉ hè và tình cờ đọc báo, cô đã mang đến tòa soạn gởi cho nhân vật 5 triệu đồng và xin được giấu tên. Nhân vật trong Hồ Sơ Một Vết Thương là chị Bảy Lòng, hồi chiến tranh, chị bị một vết thương oan nghiệt nên không thể lấy chồng. Hoà bình, chị xin một đứa con nuôi. Khi tôi tìm đến chị thì đứa con ấy – cháu Bình Đẳng – đang là sinh viên năm cuối đại học sư phạm Cần Thơ. Chị sống một mình trong căn chòi rách nát bên bờ sông Tân Lộc, đất đã bán hết, bộ cột nhà cũng đã bán, cái thẻ thương binh cũng đã cầm để gởi tiền học phí cho con. Ngày ngày chị làm bánh bò, đội trên đầu lội bộ gần năm cây số ra chợ ngồi bán. Vậy mà khi ngồi tiếp tôi, chị luôn nhắc đến con với một nụ cười hạnh phúc, mắt nhìn xăm xăm về phía bến sông: “Nó nói hôm nay nó về mà sao giờ nầy chưa thấy”.

Sau nghĩa cử của cô nữ sinh Hà Nội, tôi gởi tờ báo cho chú Ba Thám, bí thư tỉnh ủy. Mấy hôm sau ông gọi điện cho tôi: “Chú đã làm việc với hiệp hội chế biến thủy sản và công ty phát triển nhà, họ rất nhiệt tình”. Khoảng một tháng sau, ngôi nhà chị Bảy được khởi công tại trung tâm thành phố Cà Mau. Không phải nhà tình nghĩa mà còn hơn cả nhà tình nghĩa. Nếu tính trị giá cả nhà và đất cũng lên đến vài trăm triệu đồng. Bạn đọc kéo đến, mỗi người góp vô một ít, người vài ba triệu đồng, người cho cái bếp gas, người cho chiếc giường, cái tủ, bộ salon . . . cuối cùng là anh Huỳnh Khánh, giám đốc Sở Văn hóa thông tin nhận chị vào làm tạp vụ trong công viên, gần ngôi nhà chị. Hôm ấy, cháu Bình Đẳng kể với tôi: “Ở trường, ngoài giờ học con xin làm bảo vệ, vừa có lương, vừa có chỗ ở, khỏi phải thuê. Có thằng bạn cứ nghĩ con keo kiệt, ham tiền, một hôm gặp con, nó vừa khóc vừa nói, đêm qua nghe đài phát thanh đọc bút ký Hồ Sơ Một Vết Thương viết về mẹ mầy, tao mới hiểu, không ngời cuộc đời mầy khổ như vậy”.

Cháu Đẳng ra trường, về làm biên tập viên báo Đất Mũi, giờ đã có vợ con. Một hôm, Đẳng gọi điện báo tin: “Cậu ơi, mẹ con mất rồi !”.Thì ra chị Bảy Lòng bị ung thư, chị âm thầm đi chữa trị suốt mấy năm mà không cho ai hay biết. Lúc bình thường, ít khi tôi tới lui thăm chị, thậm chí nhiều năm liền tôi không tới, bởi tôi không nghĩ rằng mình đã đem lại cho chị sự đổi đời. Khi được tin chị mất, sau giây phút ngậm ngùi, tôi chợt nghĩ, trong hành trang của chị mang đi, có nỗi ấm áp tình người.

*

Đầu năm nay, theo chân nhóm làm phim của TFS, tôi trở lại Cà Mau thăm chị Năm Nhi, một nhân vật trong bút ký Người Mẹ Chưa Được Tôn Vinh. Những ai đã từng nuôi năm sáu đứa con học đại học mới có thể chia sẻ được nỗi nhọc nhằn của người mẹ, người cha như vợ chồng chị Nhi với anh Hoàng. Nhà chị ở kinh Tân Móc, xã Khánh Bình Đông, cách trung tâm Cà Mau gần 30 cây số. Khi năm đứa con lần lượt đến trường, chị ra Cà Mau, mượn một miếng đất của người em, dựng một căn chòi bên ao rau muống cho con cái học hành. Vợ chồng chị ở trong quê, ngày ngày đi giăng câu giăng lưới, hái rau, mót từng bó lá chuối, lá dừa, chèo xuồng ra chợ bán, mua từng quyển tập, quyển sách cho con. Năm 2001, khi tôi viết bút ký Người Mẹ Chưa Được Tôn Vinh thì đứa con trai lớn của chị đã tốt nghiệp học viện quân sự ra trường, làm sĩ quan trong quân đội, hai đứa con gái cũng vừa học xong đại học sư phạm đang tìm việc. Chị than thở rằng, người ta đòi mỗi đứa phải lo hai lượng vàng để được dạy tại Cà Mau. Thằng con trai thứ năm đang học năm thứ ba đại học công nghệ thông tin ở sài Gòn, đang cần chiếc máy tính. Định xong mùa ruộng nầy mua cho nó, nhưng lúa bị mất mùa, rớt giá, lấy đâu ra bốn trăm giạ để mua chiếc máy tính cho con, lấy đâu ra bốn lượng vàng để xin việc cho hai cô con gái.

May thay, sau khi báo phát hành, anh Thái Văn Long, Giám đốc sở Giáo dục Cà Mau gọi điện cho tôi, bảo nộp hồ sơ cô Cầm và cô Cẩm, con chị Năm Nhi. Được tin, chị mừng đến rơi nước mắt. Mấy ngày sau, chị lại khóc thêm lần nữa khi tôi báo tin có một thằng em họ của tôi tặng cho con trai chị - cháu Tô Nha - chiếc máy tính trị giá bằng bốn trăm giạ lúa. Rồi tin vui tiếp nối tin vui, ông giám đốc Công ty phát triển nhà Cà Mau gọi điện mời tôi qua chơi, ông nói: “Mầy viết giùm vợ chồng bà Năm Nhi cái đơn xin mua nền nhà trả góp, nói bả mang về xã xác nhận rồi đem ra đây, tao giải quyết cho cái nền nhà trong dự án của ngân sách, giá rẻ, trả 10 năm”.

Khi tôi lên Sài Gòn định cư thì Tô Nha cũng vừa mới ra trường, cháu làm việc cho công ty phần mềm Lạc Việt. Hai năm sau, Nha được mời sang làm chuyên gia phần mềm cho một công ty của Nhật ở Tokyo. Gởi mail về cho tôi, Nha nói cháu được cấp một căn hộ đầy đủ tiện nghi gần nơi làm việc, mỗi tháng cháu gởi về cho mẹ 1.000USD. Nếu không có gì trở ngại thì hai năm nữa, người chủ bên ấy sẽ đầu tư sang Việt Nam mở một công ty phần mềm và thuê cháu trở về làm giám đốc.

Chị Năm Nhi khóc sướt mướt khi mở cổng đón tôi. Ngôi nhà khá khang trang, một trệt, hai lầu, kiến trúc hiện đại, cách căn chòi bên ao rau muống ngày xưa chừng vài trăm mét. Chị nói thằng Út bây giờ đang học năm cuối khoa kinh tế, đại học Cần Thơ. Chị mời tôi ở lại ăn cơm, tôi từ chối vì phải đi gấp. Khi tôi ra xe, chị chạy theo, tay cầm con cá lóc, chị nói ăn lấy thảo, cá trong quê vừa mới tát đìa. Tôi nhớ, lúc tôi còn ở Cà Mau, lần nào anh chị từ quê ra cũng mang đến cho tôi, khi vài con cá lóc, cá trê, khi vài con cá thác lác, có khi là keo mắm sặc, mắm rô. . . những món quà đơn sơ, bình dị, chân quê mà làm tôi cứ mãi ngậm ngùi khi nhớ lại.

Có người cho rằng tôi đã làm thay đổi số phận những nhân vật của mình. Tôi không từ chối lời nhận xét đó, nhưng, điều đó chỉ có thể đúng một phần, một phần rất nhỏ. Bởi cái lớn hơn là ở mỗi nhân vật, tôi đã tìm thấy ở họ những phẩm giá cao đẹp, đó là nghị lực sống và nhân cách sống. Chính cái phẩm giá ấy đã tạo nên cảm xúc cho người cầm bút và làm lay động tình cảm của cộng đồng - những người tốt bụng. Một chị Thiện trong Đồng Cỏ Chát, với người chồng hư đốn, tệ bạc đến như thế mà chị vẫn bao dung, để rồi chuốc lấy thêm cái hậu quả đau đớn đến tận cùng. Trong cảnh trắng tay, phải sinh đẻ dọc đường, được nhân viên trạm y tế thương tình giúp đỡ, vậy mà khi mẹ tròn con vuông, lúc từ giã ra về, chị gởi lại một nửa ghe than đước để đền ơn đáp nghĩa. Khi về đến nhà thì người chồng đã bán đất cho anh hàng xóm, lẽ ra, chị đi kiện để đòi lại đất vì người chồng sang bán bất hợp pháp, nhưng chị chỉ kiện để xin chuộc lại bằng số tiền mà người hàng xóm đã trả cho chồng, chị nói : “ Láng giềng với nhau, làm vậy coi sao được !”. Anh thẩm phán, chủ tọa phiên tòa kể lại với tôi câu chuyện ấy, câu chuyện về cái đạo làm người của chị. Và cũng chính từ chi tiết nhỏ ấy đã thôi thúc tôi tìm đến chị, để có câu chuyện Đồng Cỏ Chát.

Một năm trước, khi kể lại câu chuyện anh tiều phu Nguyễn Tấn Bông nuôi 11 đứa trẻ mồ côi trên Núi Cấm, có hai điều cứ làm tôi ray rứt: Thứ nhất, liệu anh Bông có lấy vợ được không, có người phụ nữ nào dám lấy người chồng có 11 đứa con ? Thứ hai, sống trên chót vót đỉnh Mồ Côi heo hút, làm sao để cho những đứa trẻ ấy được học hành ? May thay, những người tốt bụng khắp nơi đã chung tay cùng anh Bông lo chuyện học hành cho đám trẻ. Các tổ chức, cá nhân lần lượt mang tiền đến giúp, anh Bông đã làm xong con đường lên đỉnh núi để hàng ngày đưa các con đi học. Rồi một Việt kiều Mỹ đã gởi về hơn 40 ngàn USD để xây ngôi nhà khang trang dưới chân Núi Cấm. Ở đó, các cháu có đủ điều kiện để học đến lớp 12. Còn chuyện anh Bông ? Thật khó tin khi anh cho tôi xem hơn chục lá thư tình từ các nơi gởi về, có những lá thư gởi về từ hơn nửa vòng trái đất. Có những lời tỏ tình kín đáo, có những lời như không cần kín đáo: Em sẵn sàng làm vợ anh để cùng anh nuôi dưỡng các con . . . Hỏi anh Bông tính sao ? Anh chỉ cười trừ. Có một chị từ Đồng Tháp tìm lên Đỉnh Mồ Côi, ở đó hai ngày, cùng anh Bông đi làm rẫy, làm đường, đốn củi, nấu cơm. Nhưng anh thất vọng khi thấy chị nầy chỉ quan tâm đến anh mà thờ ơ, lạnh lùng với đám trẻ. Anh bảo thôi, dù cho họ có thương con mình chăng nữa thì cũng không thể thương hết lòng hết dạ như mình, chưa kể đến sau nầy khi có con chung thì hậu quả tình cảm sẽ ra sao ? Không khéo sẽ đỗ vỡ hết, tan đàn lạc nghé hết.

Nhiều khi tôi tự hỏi, tại sao mình may mắn để có được những nhân vật tuyệt vời như vậy ? Một anh Ba Bình với 18 năm ngồi sửa xe đạp giữa thành phố Vũng Tàu để nuôi con ăn học, vậy mà khi bài đăng lên báo, con gái Út của anh nhận được học bổng của một công ty bảo hiểm nước ngoài, anh gọi điện bảo tôi: “Tôi muốn nhường suất học bổng nầy cho người khác, kém may mắn hơn tôi”. Một bà cụ từng đêm ngồi trước nhà sách Sài Gòn bán từng chiếc bánh chuối nướng để nuôi hai đứa con trai, một khùng, một xơ gan. Mỗi tối như vậy bà kiếm lời năm bảy chục ngàn, nhưng phải mất ba chục ngàn xe ôm đi về Bình Thạnh. Nhiều lần tôi đến đón bà về, nhưng lần nào bà cũng từ chối chỉ vì một lý do duy nhất: “Tội nghiệp chú xe ôm, đêm nào mưa gió gì chú cũng chờ tôi, gần tới giờ tôi về thì ai kêu chú cũng từ chối, giá bao niêu chú cũng từ chối”. Tôi nghĩ, không một nhà văn nào có thể bịa ra cái chi tiết đó, cũng không tưởng tượng nổi cái phẩm giá tuyệt vời ấy lại ẩn náu ở một con người bình dị, nhỏ nhoi đang mưu sinh ở chốn vỉa hè. Đã hơn hai tháng qua từ khi tôi kể câu chuyện của bà trên báo, đến bây giờ, khách qua đường vẫn còn ghé cho tiền. Bà khoe với tôi, mới đây có một người mang đến 200USD, nói là tiền của ca sĩ La Sương Sương bên Mỹ, cô ấy qua đời, còn để lại số tiền làm từ thiện. Ông chủ tịch phường nơi bà ở cũng vừa mời lên, cho sáu triệu đồng. Một lần khác tôi ghé thăm, bà nói: “ Tôi nghe người ta nói chú viết bài về tôi, phải tốn rất nhiều tiền người ta mới cho đăng lên báo. Tôi trông gặp chú để hỏi, nếu vậy thì tôi xin được góp vô một ít, không lẽ chú giúp tôi mà chú phải tốn tiền”. Tôi kềm chế để khỏi bật cười trước sự ngây ngô của bà: “ Không đâu dì ơi, chẳng những cháu không tốn tiền mà còn được trả tiền công”. “Ừ, nếu vậy thì tôi không áy náy lương tâm”. Tôi nghĩ số tiền mà bạn đọc cho bà không phải là đồng tiền bố thí mà đó chính là phần thưởng, và bà xứng đáng được thưởng bởi chính cái phẩm giá của bà.

Không hiểu sao, mỗi lần đối diện với những nhân vật của mình, tôi chợt nhớ đến vở cải lương Tần Nương Thất của soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng. Người cha muốn cưới cô vũ nữ cho con trai, nhưng con trai ông chê cô ấy dốt, ông già ôn tồn nói: “Nhân cách không phải là sở hữu độc quyền của những người nhiều chữ nghĩa đâu con !”

Dường như lời khuyên ấy đã giúp tôi một niềm tin mãnh liệt vào nhân vật của mình.

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2009

TRẢ LỚI PHỎNG VẤN BÁO PHỤ NỮ





TÔI VIẾT ĐỂ TRẢ NỢ QUÊ NHÀ

Hơn hai mươi năm cầm bút,viết về hàng trăm thân phận con người trong đó đa số là những người phụ nữ của đời thường,Võ Đắc Danh đau đáu với nỗi buồn và vui với từng niềm vui bé mọn của những người nông dân và dân nghèo thành thị.Câu chuyện giữa chúng tôi cũng vì thế mà thấm đẫm vị mặn của những giọt nước mắt,giữa những nỗi đau buồn riêng,chung…

*Đa phần nhân vật trong các bút ký của anh là phụ nữ.Anh chọn họ để dễ lấy nước mắt độc giả hay họ chọn anh để trải lòng?

-Không ai chọn ai hết.Có lẽ,do cái duyên nghề nghiệp đưa đẩy.Những người mẹ,người chị đến với tôi một cách tự nhiên.Và tôi nhận ra rằng,đa số họ dù nghèo khó,buôn gánh bán bưng nhưng lại là những người nhân hậu ,bao dung,đầy ý chí và nghị lực,luôn quên mình vì con vì cháu…Họ là những tấm gương bình dị,họ cho tôi những bài học đơn giản nhưng sâu sắc mà tôi học hoài không hết.

*Có nhân vật nữ nào ám ảnh anh mãi không?

-Rất nhiều! Tôi nhớ từng nhân vật của mình.Nhân vật nào cũng để lại độ lắng nhất định trong lòng tôi.Ví dụ như cô Năm Nhi ở Khánh Bình Đông,Cà Mau chẳng hạn.Nhà cô cách Cà Mau khoảng 30km.Cô ra TP.Cà Mau mượn miếng đất ,cất cái chòi lá nhỏ như chuồng gà,để cho 5 đứa con đi học.Mỗi ngày cô hái rau rừng,cắt lá chuối,giăng lưới,xin đọt dừa bị đuông ăn và chèo ghe ra chợ bán.Giờ thì cả 5 đứa con cô đã ăn học thành tài,đứa thứ năm vừa được sang Nhật làm chuyên gia phần mềm.Một chân dung đơn giản vậy thôi mà gợi biết bao điều…

*Ba đầu sách,đạo diễn 12 phim tài liệu,biên kịch 20 phim tài liệu,đến giờ”đứa con”nào được anh ưu ái nhất?

-Đã là”con”thì tròn hay méo vẫn là yêu thương .Nhưng tôi nhớ nhất hai phim tài liệu là Con trâuĐất lành.Phim Đất lành nói về vai trò của người Minh Hương trong lịch sử khẩn hoang miền Nam.Phim Con trâu là câu chuyện về thân phận loài vật gắn liền với lịch sử văn minh lúa nước,làm nên một nền văn minh lúa nước.Nhưng khi cơ giới hoá đến,trâu bị bỏ rơi …

*Nghe thiên hạ đồn rằng con đường vào nghề của anh khá đặc biệt…?

-Thiên hạ đồn sao vậy?(cười,ngẫm nghĩ một chút).Ừ,mà nghĩ cho cùng thì đường vào nghề phim tài liệu của tôi cũng khá đặc biệt.Tôi mê làm phim tài liệu mà không biết cách nào để học,vìở tỉnh lúc đó đâu có chỗ nào dạy.Thế là,vợ cho ít tiền lên SàiGòn.May mắn được gặp đạo diễn Thanh Hùng(lúcđó là giám đốc hãng phimGiải Phóng)và đạo diễn Nguyễn Ngọc Hiển nhận dạy không lấy tiền mà lại còn bảo bọc,đãi đằng”thằng”học viên liều mạng.

Sau khi về lại Cà Mau,tôi chắt bóp mua được cái máy quay.Lại thêm một cái duyên may nữa khi đạo diễn Thanh Hùng tin tưởng giao cho tôi làm bộ phim đầu tay:Con trâu.Phim đã giành được một giải thưởng bé xíu:giải thưởng Ban giám khảo tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ 12,nhưng đó lại là niềm vui để giúp tôi thêm vững tin vào đường nghề của mình.

*Nhưng với kiến thức chuyên môn khá ít ỏi theo kiểu nghề truyền nghề như vậy,có đủ để anh làm phim tài liệu một cách chuyên nghiệp và đi đường dài với nghề không?

-Làm phim tài liệu thì phải học cả đời.Làm một bộ phim tài liệu phụ thuộc vào nhiều thứ:thiết bị máy móc ,đội ngũ cộng sự:biên kịch ,quay phim…Nhưng chính vốn sống, cảm xúc,khả năng chuyển tải những chất liệu đời sống của đạo diễn mới làm nên nét khác biệt.Còn chuyện đi đường dài với nghề phụ thuộc vào sự đam mê.Chữ”chuyên nghiệp”nên được nhìn từ góc độ những tác phẩm mà người làm nghề tạo ra chứ không nên nhìn vào bằng cấp.Ở VN,không ít đạo diễn phim truyện lẫn phim tài liệu đều tự học và được đào tạo theo kiểu nghề truyền nghề đấy thôi:Lê Mạnh Thích,Trần Văn Thuỷ là những ví dụ…

*Anh tự xưng mình là”người nông dân cầm bút”,vì nông thôn ám ảnh,day dứt đến mức anh muốn trở thành một Nam Cao với thể loại bút ký hay là vì anh cố tình”làm duyên làm dáng”để biến mình/văn chương mình thành một kiểu”đặc sản nông thôn”?

-Làm duyên làm dáng với hoa hồng hoa huệ,chứ ai lại làm dáng với bông bụt?Tôi là một đứa con của nông thôn và tôi viết về “Người Mẹ”của mình. Những ký ức nông thôn xưa buồn và đẹp, và những lát cắt của đời sống nông thôn đương đại với bao nhiêu nỗi đau trước thân phận của người nông dân bị ngược đãi là niềm đam mê và nỗi trăn trở của tôi.

Cũng có người sợ rằng tôi “đem ký ức thôn quê”của mình ra “xài” hoài thì sẽ hết. Tôi không lo lắng điều đó. Độ lùi của thời gian sẽ cho con người cách nhìn về mỗi sự vật khác hơn lúc ban đầu. Và nông thôn đối với tôimãi là một kho tàng đề tài vô giá. Tôi nghĩ mình phải viết để trả nợ với quê nhà, với những điều tốt đẹp ở nông thôn đã nuôi lớn tâm hồn tôi. Và cả món nợ với những người nông dân tội nghiệp trong cơn lốc đô thị hoá đã gặp phải không ít khó khăn…

*Anh viết về nhiều người nông dân, đa phần họ đều là “người tốt việc tốt” cả. Anh không sợ mình bị nói hoài một giọng sao?

- Chung quy, viết về con người thì phải gồm hai vấn đề chính: niềm vui và nỗi đau. Trong những “người tốt việc tốt” – nhân vật của tôi mà bạn nói có cả hai gương mặt đó. Thực chất, tôi không viết về công việc cuả họ mà tôi viết về thân phận của họ và phẩm giá của họ. Thân phận thì không ai giống ai cả, mỗi con người có một cuộc đời riêng, một tâm tư riêng và những câu chuyện số phận của từng người thì khác nhau.

* Đọc những trang bút ký của anh (Nỗi niềm U Minh Hạ, Đồng cỏ chát, Thế giới người điên), tôi thấy bàng bạc những ký ức tuổi thơ: dịu ngọt mà hình như cũng đăng đắng, mặn mặn những giọt mồ hôi của một đứa trẻ nông thôn mồ côi cha từ nhỏ và sớm phải bươn chải kiếm sống?

- Thật ra thì tuổi thơ tôi, gia đình tôi cũng bình thường như phần đông gia đình nông dân Nam bộ. Khẩn hoang, nghèo khó, chiến tranh rồi mất mát và cố gắng vượt lên khỏi đói nghèo. Tôi mồ côi cha từ nhỏ, may mắn có một người mẹ tốt, yêu thương và hết lòng chăm sóc cho con cái. Cha tôi và hai anh tôi đều là liệt sĩ, mẹ tôi là Bà mẹ VN anh hùng, nhưng tôi thấy anh hùng nhất là trong tình thương yêu các con, trong sự dạy dỗ ân cần một cách tự nhiên. Chính cách sống của bà là bài học lớn nhất cho chúng tôi. Bà vẫn dạy chúng tôi điều tốt nhất trong đời sống là con người chúng ta phải biết sống tử tế với nhau, dù chung quanh mình có ra sao đi nữa.

Tôi còn nhớ lúc tôi học cấp II, đi ở trọ ở Cà Mau, chở nước đá mướn cho người ta được ít tiền. Về nhà thăm mẹ, thấy mẹ ăn kham khổ, tôi lấy tiền đưa trước cho một dì bán cá đối ở gần nhà, nói cứ vài ngày thì đem cá đối qua cho mẹ tôi giùm. Khi mẹ tôi hay được chuyện đó, mẹ đã rầy tôi, bà nói có tiền thì lo mua sách vở mà học hành…Bây giờ cũng vậy, mua cái gì, chăm lo cái gì cho mẹ là tôi liền bị rầy, nói để lo cho các con tôi.

*Trong những ký ức nông thôn của anh,ngoài hình ảnh mẹ,tôi còn thấy thấp thoáng một vài mối tình “lá diêu bông”.Viết về phụ nữ nhiều,anh có bị “rung rinh”vì nhân vật của mình không vậy?

-Những ký ức”lá diêu bông”thì thằng con trai quê nào mà chẳng có!Cái thời rơm rạ dại khờ,những kỷ niệm ấy đã thành một phần nuôi lớn tâm hồn mình.Các nhân vật nữ của tôi hả?Chưa bao giờ tôi có tình yêu trai gái với họ.Chỉ là tình thương,sự kính trọng hoặc nỗi xót xa mà thôi…

*Việc làm nhà văn,nhà làm phim có ảnh hưởng gì đến việc dạy con không?

-Hình như tôi…không dạy con gì hết.Tôi chơi với chúng,cố gắng hiểu xem con muốn gì,cần gì,trông đợi gì ở mình.Tôi cố gắng vừa là một người cha,vừa là một người bạn của các con.Hiếm khi tôi trách phạt chúng mà chủ yếu là chia sẻ,tâm tình.Việc tôi làm người viết văn,người làm phim ảnh hưởng lớn tới các con nhưng là ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực.Các con tôi biết tôi đang làm gì,viết gì và chúng trân trong điều đó.Tôi hạnh phúc vô cùng khi nhận ra rằng,con mình đã xem việc sống tử tế với cuộc đời như là lẽ tất nhiên.

*Xin cảm ơn anh.

HỒNG HẠNH ( Báo Phụ Nữ TP số 06 )

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2009

HÀNH TRÌNH VƯỢT LÊN SỐ PHẬN




Cháu Lê Thị Hoàng Oanh xin được chụp ảnh với nhà thơ Đỗ Trung Quân (Nhà văn Trần Thôi và Võ Đắc Danh ăn theo)

“Đau đớn quá anh ơi !”. Đó là tin nhắn của đạo diễn Lê Nguyễn Khôi Nguyên từ Vĩnh Long khi đang quay chương trình VƯỢT LÊN SỐ PHẬN. Ban đầu, tôi mời Khôi Nguyên cộng tác với vai trò quay phim vì anh là một ống kính tài hoa. Nhưng sau đó có sự thay đổi vì Nguyên đã từng làm đạo diễn và đang học đại học đạo diễn sắp ra trường. Một gã đầu đinh, tính khí giang hồ, phải thì chơi tới cùng, không phải thì thôi. Một tính cách như thế, tôi không thể ngờ rằng Nguyên có thể mềm lòng đến bật khóc khi tiếp cận với những nhân vật của mình đến mức phải buông tay máy. Nguyên gọi điện nói: “Anh ơi, làm sao có tiền ngay để giúp đứa bé đang bị bướu máu, chậm một ngày là khổ một ngày đối với người ta . . .”. Hôm sau, nhà văn Trần Thôi, tác giả kịch bản gọi điện: “Ông Nguyên xuất tiền túi mua hai chiếc xe đạp cho hai học sinh nghèo ở Long Hồ, ổng bắt tôi đi lựa và bỏ lên xe lôi chở vô cho ổng . . .”

Hôm sau, chúng tôi xuống hiện trường, nhìn hai chiếc xe đạp trong nhà ông Bảy Cưởng mà Nguyên vừa tặng hai đứa cháu ngoại ông, bé Khánh Linh và Vũ Linh, tôi nghĩ không thể nào không hành xử như thế bởi hai đứa bé hàng ngày đi học phải lội bộ trên con đường hơn ba cây số. Hai đứa trẻ mất mẹ, cha bỏ đi biệt xứ, sống với ông bà ngoại mà bà ngoại thì đang nằm trong bệnh viện, ông ngoại hàng ngày ngồi còm lưng nắn từng chiếc cà ràng đem bán để kiếm cơm. Cảnh nghèo khổ như thế trên đất nước nầy không ít, nhưng, trong cảnh nghèo khổ ấy mà hai chị em Linh vẫn bám lớp bám trường để ấp ủ một tương lai, đó chính là câu chuyện mà chúng tôi muốn kể. Linh đang học lớp 11, tôi hỏi cháu định chọn ngành gì trong năm sau, cháu nói sẽ thi vào ngành điều dưỡng. Tôi hỏi vì sao, cháu nói vì đi nuôi bà ngoại trong bệnh viện, thấy mấy cô điều dưỡng dễ thương quá, cháu thích. Nguyên nói nhỏ với tôi, bé Linh bệnh yếu tim, mỗi ngày hai lượt đi về hơn sáu cây số, có hôm về đến nhà là nằm vùi, mặt mày xanh mét, có chiếc xe đạp cũng đỡ cho nó.

Trong ngôi nhà lá rách nát giữa khu vườn tạp, mồ mả vây quanh, hai vợ chồng già. Người chồng bị mù nằm trên ván, bà vợ đi bán vé số mới về. Đó là cha mẹ của cháu Lê Thị Hoàng Oanh, học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngôi trường nổi tiếng của Vĩnh Long. Nhà rách nát, nhìn đâu cũng thấy màu khói bám vì nấu nướng bằng củi tạp – một mức sinh hoạt mà hiện nay tưởng như không còn tồn tại – và, một sự tồn tại đến không ngờ nữa là nguồn nước sinh hoạt được lấy từ con mương nhỏ sau hè, một con mương được chắn hai đầu bằng bờ đất và hai đầu bên kia là nước thải của các nhà vệ sinh trong xóm.Hỏi sao không gắn đồng hồ nước, chị Ánh, mẹ cháu Oanh nói, có đăng ký nhưng chi phí hơn hai triệu đồng, gia đình không có khả năng.

Lê Thị Hoàng Oanh tan học về, cô bé xuất hiện làm tôi ngỡ ngàng: trắng tinh,xinh đẹp, hồn nhiên trong chiếc áo dài màu trắng. Nhà thơ Đỗ Trung Quân không cầm được nước mắt khi nghĩ rằng bao nhiêu năm rồi Oanh phải tắm giặt với một nguồn nước mà những cô gái cùng trang lứa với cháu chưa chắc gì đã dám rửa tay. Sau khi trao quà của chương trình, Quân móc bóp lấy ra ít tiền đưa cho cháu: “Chú đọc kịch bản, thấy cháu chưa bao giờ biết ăn hủ tíu, thậm chí ăn xôi mà cũng không dám ăn xôi mặn, chỉ dám ăn xôi ngọt mỗi gói một ngàn. Bây giờ chú có một đề nghị: Chiều nay cháu đi chợ mua thịt cá về làm một bữa cơm đãi ba mẹ cháu thay chú, phần còn lại chú thưởng cho tinh thần hiếu học của cháu bằng những tô hủ tíu, những gói xôi mặn . . .” Cô bé lại cười rất hồn nhiên.

Mỗi nhân vật là một số phận, nhưng trong mỗi số phận ấy toát lên một câu chuyện của ý chí, của nghị lực, của lòng nhân ái làm lay động tấm lòng người đi kể chuyện – những tác giả kịch bản, những đạo diễn, những quay phim. Đạo diễn Trần Quế Ngọc khi đi quay bộ phim “Tôi ơi đừng tuyệt vọng” ở Đồng Xoài, nhìn cảnh ông ngoại chăm sóc đứa cháu bại liệt từ thuở lên bốn cho đến khi cháu học lớp 11, hàng ngày ông đưa đón cháu lên xuống chiếc xe lăn, chị đã khóc và vét đến đồng bạc cuối cùng của mình để trao cho nhân vật. Cũng như tác giả kịch bản Mai Hân, khi đi viết về chị Tùng ở Bình Chánh, một người mẹ bán cá, vừa mang bệnh ung thư nhưng phải cam chịu để nuôi ba đứa con ăn học. Chị Mai Hân vừa vận động bạn bè góp tiền cho chị Tùng, vừa xuất tiền túi ra cho chị, và, trong một buổi chiều chạng vạng, chị đã mua hết phần cá còn lại của chị Tùng để sáng hôm sau chị yên tâm nhập viện . . .

Những câu chuyện của các nhân vật với những người làm phim cứ thế hòa quyện, gắn chặt vào nhau, chia sẻ cùng nhau những bài học làm người, biết yêu thương và vượt lên số phận.

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2009

Giới thiệu chương trình VƯỢT LÊN SỐ PHẬN




Ông Lê Văn Khôi và cháu ngoại Nguyễn Lê Hoài Trung, nhân vật trong phim TÔI ƠI ĐỪNG TUYỆT VỌNG.Chủ biên: Võ Đắc Danh. Kịch bản: Khải Đơn, Biên tập & lời bình: Võ Đắc Dự, Đạo diễn: Trần Quế Ngọc, Quay phim: Nguyễn Văn Bách,Dựng phim Lê Minh Bảo, Đọc lời bình: Thy Mai, Dẫn chương trình:Đỗ Trung Quân.


VƯỢT LÊN SỐ PHẬN là chủ đề của một chuyên mục ký sự nhân vật đăng vào thứ hai hàng tuần trên báo Sài Gòn Tiếp Thị, đồng thời cũng là chương trình truyền hình phát vào 21 giờ tối thứ hai hàng tuần trên VTV9 – dự kiến vào đầu tháng ba sắp tới.

Đây không phải là một chương trình truyền hình từ thiện xã hội được thiết kế theo một format mà chúng ta đã từng xem. Cũng là những con người thật việc thật, nhưng mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật ngồn ngộn chất liệu đời sống là một hình tượng nghệ thuật được chuyển tải bằng ngôn ngữ của phim tài liệu bởi những nhà văn, nhà báo, đạo diễn và những nhà quay phim chuyên nghiệp.

VƯỢT LÊN SỐ PHẬN cũng không nhằm kể lể sự nghèo khổ của mỗi nhân vật để kêu gọi lòng thương hại của cộng đồng. Mỗi bộ phim là một tác phẩm nghệ thuật nhằm tôn vinh những tình cảm, phẩm chất, lòng nhân ái, bản lĩnh, nghị lực và ý chí vượt khó của những con người thiếu may mắn. Nhưng ở họ có rất nhiều điều đáng để chúng ta học tập.

Khi xây dựng ý tưởng cho chương trình nầy, chúng tôi liên tưởng đến một hình ảnh quen thuộc ở vùng bán đảo Cà Mau, một vùng đất có hệ sinh thái rất đặc biệt là mỗi năm có hai mùa mặn ngọt, hệ thống sông ngòi chằng chịt, phương tiện đi lại chủ yếu bằng xuồng ghe. Khi đến mùa nước mặn, các nhánh sông đều được ngăn lại để giữ ngọt cho đất trồng lúa, người ta gọi là đắp đập. Chính vì vậy mà nỗi ám ảnh lớn nhất của người đi đường là kéo xuồng qua đập. Sức yếu, thế cô, xuồng chở nặng, gặp con đập thì đành phải ngồi chờ, cầu may có ai đó qua đường để giúp họ một tay, nếu không có người giúp thì đành chịu, không cách nào để ra sông lớn.

Người nghèo trên đất nước ta chiếm một tỷ lệ khá cao. Nhưng, không phải ai cũng nhận thức được thân phận mình, không phải ai cũng có ý chí vượt ra sông lớn. Và, không phải ai có ý chí cũng đều có đủ nghị lực, đủ điều kiện để vượt ra sông lớn.

Một chị Tùng ở Bình Chánh, sống nghề bán cá và gia công bó chổi lông gà để nuôi ba đứa con ăn học. Chẳng may mắc bệnh ung thư, chính quyền địa phương giúp chị sáu triệu đồng chữa bệnh. Khi vào viện nhận lịch mổ, chị đứng trước sự lựa chọn: căn nhà sắp sập, nếu cứu được mình mà nửa đêm nhà sập, con chết thì mình sống với ai ? Cuối cùng chị trốn viện để đem tiền về sửa lại căn nhà. Một ông Khôi ở Bình Phước nuôi đứa cháu ngoại vừa mồ côi, vừa bệnh tật. Hàng ngày, ông đẩy xe lăn đưa cháu đến trường. Khi bé Trung học đến cấp ba, phải ra Đồng Xoài thuê nhà trọ, ông bỏ quê ra ở cùng với cháu. Đáp lại tình thương của ông, Trung luôn là học sinh xuất sắc, ngược lại, ông luôn xem Trung là niềm tự hào của mình . . .

Mỗi gia đình, mỗi cuộc đời có một số phận khác nhau. Và cứ mỗi một câu chuyện như thế, chúng tôi đã học ở nhân vật của mình một bài học làm người. Khi tiếp cận với họ, chúng tôi luôn tự hỏi: Nếu chẳng may mình rơi vào những hoàn cảnh như vậy, liệu mình có đủ nghị lực và phẩm giá để sống một cách tử tế như họ không ? Và, chúng tôi muốn chuyển những câu hỏi đầy trăn trở ấy đến các bạn qua mỗi trang viết, mỗi bộ phim ngắn mà chúng tôi đang thực hiện. Chúng tôi giúp họ và kêu gọi các nhà hảo tâm giúp họ, đó là chuyện đương nhiên. Nhưng đôi khi tôi nghĩ khác, không phải chúng ta giúp họ mà là chúng ta trả tiền học phí cho những bài học vô giá về số phận, về lòng nhân ái, về nghị lực, về phẩm giá . . . nói chung là những bài học làm người.

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2009

LÃO KWAN ĐƯỢC ƯU TIÊN NHƯ THẾ NÀO ?




Trưa thứ tư, 11-2, cùng với lão Kwan vào chợ Thái Nguyên. Ngôi chợ vùng cao khá hoành tráng, tìm mãi mới thấy cái WC. Theo thông lệ, phí vệ sinh công cộng mỗi người là 1.000đ, lão Kwan vừa đi ra, định móc tiền trả thì em gái trực nhà vệ sinh reo lên:"Ôi, có phải chú đóng vai thầy giáo của Bảo Nam trong phim Bỗng Dưng Muốn Khóc không ạ ?". Lão Kwan sướng rân người: "Đúng, nhưng bây giờ chú vừa đóng phim bỗng dưng muốn . . . đái". Em gái niềm nở: "Vâng, cháu xin được miễn phí cho chú ạ !" Thế là Kwan tiết kiệm được 1.000đ.
Xem ra, đóng phim cũng có nhiều cái lợi bất ngờ.
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2009

MÙA SA MƯA





Hai năm trước, trong chuyến đi chơi Củ Chi, chúng tôi ghé vào một nhà hàng ven sông, bất chợt nhìn vô thực đơn thấy có món rau luộc chấm kho quẹt. Giựt mình gọi thử. Trời ạ ! Nó giống y chang như ngày xưa. Một dĩa rau luộc gồm năm sáu thứ rau đồng, một cái ui đất kho sền sệt nước mắm và tép mỡ. Không còn nghi ngờ gì nữa, hẳn người chủ quán nầy có liên quan ít nhiều đến ký ức của một thời nghèo khó, giờ đem ra bày bán cho dân nhập cư.

Ở quê tôi, vùng bán đảo Cà Mau, vào mùa nước mặn, cá đồng rút về miệt Sông Hậu, Sông Tiền, nhường chỗ cho các loài cá biển. Đến mùa sa mưa, nước phèn đổ xuống các dòng sông, cá biển trở về với biển, cá đồng từ Sông Hậu, Sông Tiền theo nước đục từ đầu nguồn bắt đầu quay trở lại để đẻ trứng, sinh con. Trong cái khúc giao mùa từ hạn sang mưa, từ mặn sang ngọt ấy, khoảng thời gian gần hai tháng, tất cả các dòng sông đều lững lờ một dòng nước phèn trong vắt, nhìn thấy tận đáy, vắng bóng cá tôm. Nếu như cái tiết giao mùa từ ngọt sang mặn, cá đồng chạy từng đàn, chồng chất lên nhau, bắt ăn không hết, phải làm mắm làm khô thì mùa sa mưa, ngược lại, không tìm đâu ra cá. Âu cũng là luật bù trừ. Những ngày tháng ấy, dân xứ tôi hay nói đùa là ăn cơm cục chấm cơm rời. Nhưng bù lại, mùa sa mưa cũng là mùa của nấm rơm, nấm phân trâu và rau đồng. Bây giờ, bạn có thể biết nhiều loại nấm, nhưng chắc rằng chẳng mấy ai thưởng thức được cái vị đậm đà của nấm phân trâu. Xứ tôi, mùa hạn, trâu ăn cỏ đầy đồng, phân trâu cũng đầy đồng. Thông thường thì chẳng ai thèm để ý, trừ khi người ta lấy một ít phân khô để đốt lửa nấu cháo heo hoặc dự trữ một ít để mùa mưa bón cho dây mướp dây bầu. Phân trâu không có mùi hôi mà ngược lại, nó thơm thơm mùi rạ, mùi rơm, mùi cỏ úa. Chỉ sau một trận mưa sòng, sáng ra là cả một cánh đồng rực lên một rừng nấm trắng từ những đám phân trâu. Phải hái nó trước khi mặt trời mọc để giữ những chiếc nấm non tơ, mập ú, tròn trịa như chiếc dù con con trước khi chúng bung ra hình chiếc lọng. Nấm phân trâu xào mỡ, vừa ngọt, vừa béo, vừa thơm, chỉ có thể so với nấm tràm, nấm mối và nấm bào ngư. Nhưng nấm phân trâu bạo phát bạo tàn, chỉ rực lên một hai đêm rồi hết. Nấm rơm tự nhiên cũng thế, chỉ sau vài cơn mưa, hái được vài lần, khi lớp rơm bên ngoài nhão ướt thì cây rơm phủ lên toàn nấm dại.

Sau vài trận mưa sòng, cánh đồng trở thành vương quốc của các loài rau. Chẳng biết từ khi nào, trong hành trình khẩn hoang, cha ông ta với sự kiểm nghiệm bằng vị giác đã phân định đâu là rau, đâu là cỏ để cháu con thừa hưởng sự phong phú của rau đồng: rau muống, rau đắng, rau má, rau diệu, rau trai, rau ngổ, cải trời, nhãn lồng, đọt choại . . . Tất cả những thứ ấy gom lại thành một nồi canh, gọi là canh rau tập tàng. Nồi canh rau tập tàng cho vào một con mắm, tạo nên cái hương thơm nồng, cái vị mằn mặn, ngòn ngọt, đậm đà khó tả, khó quên. Mùa sa mưa ở quê tôi lấy món rau tập tàng làm thức ăn chính. Hoặc nấu canh nêm mắm, hoặc luộc chấm mắm kho. Hết mắm hoặc ngán mắm thì kho nước mắm cho sôi lên, sắc xuống sền sệt, nêm đường, bột ngọt, tiêu, củ hành, sang trọng hơn chút nữa là tép mỡ, cứ thế mà cầm cự cho đến khi cá đồng xuất hiện, đầu tiên là cá ròng ròng, cá rô thóc, chúng bị tấn công cho đến lớn dần.

Ngay sau vài trận mưa đầu tiên, đất ruộng bắt đầu xôm xốp, chúng tôi xách cái thùng thiếc với cây dao phay ra đồng, xới nhẹ ven bờ mẫu, nghe tiếng sột soạt là bới lên, lượm một vài con ốc. Gọi đó là ốc đầu mùa. Ốc đầu mùa không nhiều so với khi đồng ngập nước, nhưng sạch và ngon, bụng dạ trắng phau, không nhớt, không rong, không đất, thịt thơm giòn, tinh khiết. Nhưng khổ nỗi đi kiếm cả ngày không đủ một bữa ăn.

Sa mưa cũng là mùa soi ếch. Nước ngập đất nẻ, ngập đìa. Ban đêm, ếch từ các hang cùng ngõ hẻm chui lên, ếch đực ếch cái gọi nhau quệt quệt vang cả các cánh đồng. Đó là mùa yêu đương, mùa giao phối để sinh con đẻ cái. Đèn soi ếch cũng đỏ đồng như ngày hội. Ba tôi ngày xưa rất nổi tiếng với biệt tài soi ếch. Không phải như người ta xách đèn đi tìm theo tiếng ếch, ông tắt đèn, ngồi im một chỗ, miệng kêu quệt quệt y chang như tiếng ếch. Loài ếch tưởng bạn tình nên cứ mon men nhảy tới, vừa nhảy vừa kêu. Khi chúng tới gần, ông bật đèn khí đá sáng lên, thộp đầu từng con bỏ vô bao, không con nào chạy thóat.

Bây giờ, ếch đã được nuôi công nghiệp, ốc lác lẫn lộn với ốc bươu vàng, rau tập tàng được thay bằng rau thập cẩm. Cũng không phải rau mà là bắp cải, đậu bắp, bầu non luộc chấm với nước mắm kho đường thay cho mẻ kho quẹt trong thực đơn của các nhà hàng. Biết là không giống, không thể nào giống được, và sẽ vô cùng phi lý khi ngồi trong phòng lạnh được phục vụ bởi những cô gái chân dài, váy ngắn mà đòi cho được món rau tập tàng với mẻ kho quẹt giống hệt như ngày xưa.

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009

XE ĐẠP ÔM


Hội An
(1)

Hoi An
(2)

Hội An
(3)


Sáng mùng ba
Hội An, nắng vàng, phố cổ
Hai đứa bận đồ đẹp
Anh dép kẹp
Em guốc cao
Mình chở nhau
trên chiếc xe xẹp bánh
...


Chú thích:

(1): Kiếm khách
(2): Có khách!
(3): Mất khách.
-->đọc tiếp...