Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2008

BÀ CHÚA VỈA HÈ




Tiểu Hương không ngần ngại cho tôi xem những vết thẹo trên người. Và, cô cũng không ngần ngại khi kể về lai lịch đau buồn của những vết thẹo ấy: “Lần đầu tiên em bị bán vào động gái ở Vũng Tàu, em kiên quyết không tiếp khách và tìm cách trốn ra khỏi nhà. Chúng bắt em lại, lột hết áo quần, trói vào góc giường rồi dùng hai thanh sắt nung đỏ đốt hai bên hông. Chúng đốt chổ nầy để mình không mặc được áo quần, vừa để cảnh cáo những cô gái khác. Còn đây, hai vết thẹo nầy là do bọn du đảng ở bến xe Miền Đông dùng dao cắt khi em kháng cự lại trò hiếp dâm tập thể của chúng. Em đã sang Singapore làm thẩm mỹ mấy lần nên mới được như thế nầy, chớ hồi xưa thấy ghê lắm !”

Tiểu Hương nói, trong cuộc đời gần hai mươi năm đi bụi của mình, cô thề không với mấy điều: thứ nhất là không bán dâm, thứ hai là không chích xì ke, thứ ba là không móc túi và trộm cắp, thứ tư là không nói dối, thứ năm là không ăn xin. Ba điều sau cùng cô đã làm được, nhưng không bán dâm thì cũng bị người ta bắt đem đi bán từ động nầy sang động khác, bị cưỡng dâm còn tủi nhục hơn cả bán dâm. Không chích xì ke thì cũng bị bọn ma cô cưỡng chích cho ghiền để chúng dễ dàng điều khiển theo luật giang hồ.

Hỏi cô hết nghiện từ bao giờ, cô nói có một đêm mưa ở công viên Lê Lai, cô thấy mấy người bạn gái của mình vừa mắc mưa, vừa lên cơn nghiện, lại bị ghẻ lở khắp người, họ nằm rên la dưới gốc cây. Tiểu Hương đến ôm bạn khóc và lấy đá bỏ vào miệng mình nhai để tự cay nghiện, dành những đồng bạc cuối cùng để đưa bạn vào bệnh viện.

Hỏi những câu chuyện buồn đau ấy xảy ra với cô vào những tháng năm nào, Tiểu Hương không nhớ. Cô nói đối với dân giang hồ thì làm gì có thời gian. Ngay cả tên tuổi, cha mẹ, quê hương, những điều được ghi hàng đầu trong lý lịch của mỗi con người thì với cô lại hòan tòan không có. Cái tên Tiểu Hương chỉ là một cái tên cuối cùng sau hàng chục cái tên mà cô đã mang trên bước đường lưu lạc từ Trung ra Bắc, rồi từ Bắc vô Nam. Đã bao lần cố nhớ, nhưng Tiểu Hương chỉ nhớ một cách mơ hồ rằng có một cụ già mà cô gọi bằng bà nội từng dắt cô đi ăn xin trên một sân ga nhỏ ở miền Trung. Trong những ngày sức mỏi hơi tàn, bà trao đứa cháu cho hai vợ chồng người hành khách trên một chuyến tàu ra Bắc. Nơi Hương ở người ta gọi là Vĩnh Phú. Cô lớn dần trong bữa sắn bữa khoai, trong những trận đòn không thương tiếc của người dưỡng mẫu. Nhưng Hương càng lớn lên càng xinh đẹp. Và chính sắc đẹp ấy đã khiến người cha nuôi tước đọat sự trong trắng của cô khi cô vừa đến tuổi dậy thì. Bị bấn lọan, bị suy sụp nhưng Hương không biết chia sẻ với ai. Méc mẹ nuôi thì sợ bị cha nuôi giết chết – ông đã dọa như thế – mà tiếp tục chiều chuộng ông thì cô không thể. May thay, có vài người hàng xóm tốt bụng đã biết được chuyện ấy, họ gom lại một ít tiền để giúp Hương bỏ trốn. Một bà lão dẫn Hương đến ga Ấm Thượng, cô bước lên tàu mà chẳng biết mình sẽ phải về đâu. Từ đó, Hương nhập băng với nhóm trẻ bụi đời ngược xuôi theo những chuyến tàu vào Nam ra Bắc.

Thế nhưng, để bán được ly trà đá, một viên kẹo hay xin được chén cơm thừa trên tàu hỏa, trên những nhà ga đối với cô bé giang hồ trong những ngày đầu mới ra ràng không đơn giản. Nạn tranh bán, tranh ăn, ma cũ hiếp ma mới, nạn hiếp dâm, đánh đập của bọn côn đồ. . . chẳng bao lâu đã làm cho thân phận nhỏ bé của Hương trở nên bầm dập, những vết thẹo thù hận đầy người. Tiểu Hương bỏ tàu hỏa, lần theo đường ô tô đi bộ từ Lạng Sơn xuôi về phương Nam. Đi đến đâu, cô tìm cách kết bạn với những đứa trẻ cùng số phận, thấy ai hợp gu thì rủ nhau đi tiếp. Đêm ngủ gốc cây, ngày trực chờ trong hàng quán để vét từng miếng canh cặn cơm thừa. Trong cuộc hành trình vô định ấy, chẳng biết tự lúc nào, Hương nhập băng với đòan quân đi tìm trầm, đãi vàng lên tận Trường Sơn và Tây Nguyên với một khát vọng đổi đời. Nhưng đời đã không thay đổi mà tủi nhục thì cứ chất chồng thêm. Ngày thì quần quật đãi vàng trong bùn đất để đổi lấy chén cơm, đêm thì hầu hạ bọn ma cô đầy thú tính. Bị cưỡng hiếp, bị đòn roi, bị sốt rét và bị đói đến kiệt sức, hoa mắt, ù tai. Nửa đêm, Tiểu Hương bò ra rừng tìm lá cỏ non nhai lấy sức rồi bỏ trốn.

Trốn. Nhưng trốn đi đâu để thóat kiếp đọa đày của một cô gái bơ vơ mà nhan sắc đang trở thành cạm bẩy của chính mình ?

Vừa đến Vũng Tàu, Tiểu Hương lại bị bọn lưu manh bán vào động mại dâm. Lại trốn. Nhưng lần nầy nghiệt ngã hơn, chúng bắt cô trói lại, lột hết quần áo rồi dùng sắt nung đốt vào người. Bạn bè khuyên Hương nên chấp nhận bán dâm để sống, hay ít ra cũng gọi là được sống, nhưng cô đã thề, thà chết chớ không lấy thân xác làm phương tiện mưu sinh.

Thóat khỏi Vũng Tàu, Tiểu Hương vào Sài Gòn, cuộc sống đối với cô chẳng khác nào tránh vũng bùn nầy lại gặp vũng bùn khác lớn hơn, hôi thúi nhiều hơn. Nhưng có chăng là cô đã dày dạn hơn, có nhiều bản lĩnh hơn để đối phó với những hiểm họa trong giới giang hồ. Cuộc đời mênh mông nhưng đôi khi cũng vô cùng nhỏ hẹp, trong những ngày lang thang từ bến xe Miền Đông đến Sài Gòn, Chợ Lớn, bến xe Miền Tây . . . Tiểu Hương gặp lại nhiều bạn cũ đã từng kết nhau ở miền Bắc, miền trung. Họ vừa khóc vừa kể cho nhau nghe những khổ đau trong những tháng ngày lưu lạc rồi chung lưng đấu cật, dựa vào nhau để tiếp bước bụi đời. Sống giữa bạn bè, Tiểu Hương nổi trội lên một đức tính, đó là đức tính thương bạn và sẵn sàng hy sinh vì bạn. Việc cô tự cai nghiện xì ke để dành tiền lo cho bạn đã được giới giang hồ truyền tụng với nhau. Hay trong những lúc đi kiếm ăn, đi trực chờ trước quán để vét canh cặn cơm thừa, cô sẵn sàng đi đầu, đưa lưng ra chịu những trận đòn túi bụi, nhưng khi đem được thức ăn ra ngòai, cô chia đều cho bạn bè, đứa nhỏ trước, đứa lớn sau, có khi đến lượt mình thì chỉ còn là những cặn bã trong cặn bã.

Trong những năm tháng khổ đau và tủi nhục ấy, có hai người đã lưu ý đến sự tốt bụng của Hương, và sự lưu ý đó như một định mệnh với cô sau nầy.

Trong những ngày sống ở bến xe Miền Đông, Hương tự nguyện làm công việc lau dọn xe để được bố thí miếng ăn và được ngủ trong xe để tránh mưa, đặc biệt là tránh những trò nham nhỡ của bọn lưu manh. Có một ông chủ xe đò nhà ở Bến Hàm Tử đã nhận Hương làm con nuôi, ông đặt tên cô là Hùynh Thị Mận thay cho đứa con gái của ông cùng trang lứa với Hương đã mất tích, ông làm giấy chứng minh nhân dân cho Hương theo tên Mận của con ông trong hộ khẩu, nhờ vậy mà Hương trở thành công dân chính thức của Sài Gòn. Thế nhưng khi vào sống trong gia đình ông, Hương gặp phải sự chì chiết của những người con ruột. Để tránh không khí lục đục ấy trong gia đình, Hương đã lặng lẽ ra đi.

Tronh những ngày bán thuốc lá dạo ở bến Bạch Đằng, có một thương nhân Đài Loan đứng tuổi tên W. đã nhận Hương làm con nuôi, ông nói rằng ông quý Hương là đứa trẻ cơ nhỡ nhưng đầy lòng nhân ái, biết hy sinh cho những bạn đồng khổ của mình. Mỗi tối ông thường ra đó ngồi uống cà phê, thay vì Hương đi bán thuốc kiếm lời thì ông cho cô hai ngàn đồng để cô ngồi nghe ông dạy tiếng Hoa, rồi ông thuê cho cô căn phòng trên lầu 2 đường Nguyễn Huệ. Thế nhưng Hương không ở mà mỗi tối cô kéo hàng chục đứa bạn về tắm rửa rồi ra vĩa hè cùng ngủ với bạn bè. Thấy trẻ bụi đời ngày nào cũng kéo về phòng trọ quá đông nên chủ nhà lo ngại không cho thuê nữa. Ong W. bảo Hương về ở với ông trong căn nhà thuê khá to trên đường Nguyễn Khắc Nhu. Cứ nghĩ đó là người cha nuôi tốt bụng, nhưng không ngờ một hôm, Hương bị ông cưỡng hiếp. Bị tuyệt vọng trước một tình cảm cha con mà cô cứ ngỡ thiêng liêng, không ngờ nó trở thành nhơ nhớp. Lòng tốt con người chỉ là trò giã dối chăng ? Bao nhiêu người nhân danh là cha đã đi qua đời cô như thế !

Trong lúc Tiểu Hương chụp lấy con dao toan tự tử thì lão W. bỗng dưng quỳ xuống, mặt mày hốt hỏang van xin cô tha thứ, ông hứa từ nay sẽ không bao giờ dám nhìn mặt cô nữa và xin được gởi cô hai chục cây vàng để mua nhà ở, tìm cơ hội làm ăn để giúp đỡ bạn bè.

Có một điệp khúc mà nhiều bài báo trên các mạng intenet kể rằng: “Cầm 20 lượng vàng, Tiểu Hương đi mua một căn nhà trên đường Nguyễn Văn Cừ, ngay sáng hôm sau có người mua lại 45 lượng, Tiểu Hương đã bán và đi mua lại căn khác trên đường Lê Hồng Phong với giá 19 lượng, mấy hôm sau bán lại 30 lượng, cứ thế cô trở thành người kinh doanh nhà đất . . .”

Nhưng ít ai biết rằng, lúc đó Tiểu Hương đã kéo gần năm mươi người bạn cơ nhỡ của mình vào cuộc kinh doanh. Và, cùng với công việc ấy, cô đã thuê gần hai trăm phòng trọ ở rãi rác trong thành phố cho trẻ bụi đời làm nơi tắm rửa. Cô nói, đối với dân bụi đời, nhất là con gái, chuyện bức xúc nhất của mỗi ngày là tìm một nơi tắm rửa. Phải cho tụi nó có chỗ tắm trước rồi mới tính đến chỗ ở, miếng ăn, học hành, nghề nghiệp để trở thành người tử tế.

Ngay từ những năm đầu tiên của thập niên 90, khi sự nghiệp kinh doanh mới bắt đầu phát triển, dù không có tư cách pháp nhân, nhưng Tiểu Hương đã họach định một nguyên tắc trong nhóm bạn của mình theo luật giang hồ rằng, trong mỗi thương vụ làm ăn, phải dành ra 30 phần trăm lợi nhuận để giúp trẻ bụi đời. Từ những căn phòng nhỏ ban đầu làm nơi cho các em tắm rửa, cô đổi sang những căn phòng trọ lớn hơn, mỗi phòng có thể ở được năm bảy đứa, cô cấp gạo, cấp tiền ăn và dạy các em tự quản, đứa lớn chăm sóc cho đứa nhỏ, đứa thì đi học văn hóa, đứa học nghề, đứa nào thích buôn bán thì cô cấp vốn cho buôn bán. Từ đó, Tiểu Hương trở thành mẹ Hương của hàng trăm đứa trẻ mồ côi, trong đó có hàng chục trẻ sơ sinh được cô nhặt về từ bệnh viện, công viên, bến xe, vỉa hè, gốc cây, bãi rác . . .

Công việc kinh doanh và từ thiện của Hương cứ đan xen vào nhau một cách âm thầm, lặng lẽ như thế cho đến mười năm sau – năm 2001 – người ta biết đến khi Trung tâm nhân đạo Quê Hương ra đời cùng với hai công ty sản xuất nước khóang và một công ty sản xuất phụ tùng xe gắn máy mà trong đó, từ ban giám đốc cho đến công nhân, tất cả hơn 700 con người do Tiểu Hương cưu mang, đào tạo từ những mãnh đời cơ nhỡ. Không thể không kể đến trường hợp của Hùynh Quốc Minh, một đứa trẻ mồ côi đã kết nghĩa chị em với Hương từ thời niên thiếu, đã bao lần tan hợp trên bước đường lưu lạc từ Bắc vô Nam, rồi gặp lại giữa Sài Gòn, được Hương cho đi học chữ, học nghề và cấp vốn làm ăn. Bây giờ Minh trở thành một trợ thủ tòan quyền của Hương tại Trung tâm, đồng thời, em cũng là chủ của 7 chiếc xe du lịch cho thuê và có cổ phần trong hai công ty lớn ở Biên Hòa; một bé Anh Đào được Hương nhặt trong thùng rác ở bến xe Miền Đông ngay từ những ngày Hương còn bữa no bữa đói nhưng vẫn nhịn ăn để dành cho Đào từng ly sữa, bây giờ Trung tâm của Hương đã có một cô giáo Anh Đào xinh đẹp dạy Anh ngữ và Hoa ngữ cho trẻ mồ côi ; một bé Thùy Nhân được Hương nhận làm em nuôi từ lúc lên mười, giờ đã tốt nghiệp đại học và đang làm trưởng phòng kế tóan trong một công ty của Đài Loan. Những Văn Quý, Thu Cúc, Văn Minh, Văn Thu . . . những đứa trẻ vô thừa nhận lớn lên từ gốc cây bụi cỏ, bây giờ đã trở thành những nhân viên tài chính, chuyên viên kỹ thuật với mức thu nhập năm ba triệu đồng mỗi tháng.

Nói về những người bạn của mình, Tiểu Hương cho biết, qua cuộc sàng lọc bể dâu giữa chốn bụi đời, cô còn lại 46 người bạn gái. Sau những năm tháng kinh doanh nhà đất, giờ mỗi người được chia một ngôi nhà, một lô đất, một cơ sở kinh doanh rải rác các tỉnh thành từ Nam ra Bắc, trong đó có một số người thành lập công ty, có xe hơi đời mới. Ở đó, mỗi người âm thầm nuôi dưỡng vài nhóm trẻ mồ côi nhưng họ giấu biệt thân phận của mình. Tôi hỏi vì sao vậy, Hương nói: “Tụi nó sống ở địa phương, bị ràng buộc nhiều định kiến, mà quá khứ của tụi em đâu có khác gì nhau, thậm chí đời của nhiều đứa còn buồn hơn em gấp mấy lần. Chỉ có mỗi mình em chẳng cần giấu diếm điều gì, bởi em thấy đó là điều cần thiết, hơn nữa, em cũng chẳng biết mình còn sống được bao lâu với chứng bệnh ung thư”

Nhắc đến hai tiếng ung thư, giọng Tiểu Hương như chùng xuống. Hương nói rằng cô đã nhờ luật sư làm xong thủ tục hiến xác cho một cơ sở y học khi cô qua đời. Đó là điều mà cô cảm thấy bình thản nhất, không cần mai táng, không cần ai phải tiễn đưa. Cô nói chỉ tội nghiệp cho những đứa trẻ còn ở lại, trong gần hai trăm đứa đang sống ở Trung tâm, có nhiều em khiếm thị, khát vọng lớn nhất của chúng là được nhìn thấy mặt mẹ Hương. Chúng hay thì thầm với nhau: “Chắc là mẹ Hương của mình đẹp lắm, trắng da dày tóc như một nàng tiên”. Hương nói: “Mỗi khi nghe chúng nói với nhau như thế, em vừa thương chúng, vừa nghĩ trong lòng một cách đắng cay: Ừ, mẹ Hương của tụi con là một nàng tiên mắc đọa”.

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2008

BẤT NGỜ TỪ MỘT LÁ THƯ




Anh Bình và cháu Mai Phong


MỘT BỨC THƯ LẠ

Kính thưa chú Võ Đắc Danh!
Cháu tên là Nguyễn Thị Mai Phong. Hiện nay cháu đang ở thành phố biển Vũng Tàu. Cháu còn rất nhỏ tuổi, cháu chỉ vừa tốt nghiệp THPT, và hoàn thành kì thi ĐH vừa qua. Cháu vừa vô tình được đọc tập bút kí "Thế giới người điên" của chú xuất bản năm 2006.. Cháu rất ấn tượng với cách viết của chú, cách khai thác đề tài của chú, nên cháu xin mạo muội được viết mail này nhằm gửi đến chú những điều cháu suy nghĩ.
Trong tập bút kí này, đọng lại trong cháu rõ nhất là hình ảnh của đời sống sinh hoạt, của con người miền Tây Nam Bộ của đất nước Việt Nam ta. Đây là vùng đất cháu chưa từng đặt chân tới, tập bút kí này của chú đã mở ra cho cháu một chân trời mới, một miền đất mới, miền đất trù phú cá tôm, rừng ngập mặn xanh phủ kín dải bờ biển, những con người với những giá trị văn hóa truyền thống tươi đẹp. Và thật xúc động khi trong đó cháu thấy được tình cảm của chú dành cho quê hương mình, nỗi xót xa khi mà quá trình đô thị hóa, những chính sách không phù hợp của nhà nước, sự hòa nhập nhanh chóng của những người dân nơi đây trước cuộc sống hiện đại này đã góp phần "bào mòn" những tài nguyên quý báu ở nơi đây, làm cho những giá trị lâu đời tươi đẹp kia ngày càng bị mai một. Đó là tấm lòng của một người con xa quê hương luôn hướng về quê nhà.
Trong tập bút kí này, nổi bật lên là hình ảnh của những con người lao động bình dị, thân thương, đầy cảm phục. Trong số những nhân vật được chú viết đến, có những người cháu đã được biết đến qua một vài tờ báo như: nhà văn Sơn Nam, diễn viên kịch nói Lê Vũ Cầu, anh Nguyễn Hữu Ân cùng má Phẳng,cô Tiểu Hương...., nhưng khi đọc những bài viết của chú về họ cháu như thấy họ hiện ra chân thực biết mấy, gần gũi biết bao nhiêu. Họ là hiện thân của những con người có số phận khác nhau nhưng đều có một điểm chung đó là họ có cùng một điểm sáng trong tâm hồn dù họ có biểu hiện nó theo cách này hay cách khác chăng nữa thì đó vẫn là điều mà không phải ai cũng thấy được.
Tuổi đời của cháu còn rất nhỏ, có thể cháu chưa thể hiểu hết được những điều chú gửi gắm vào trong đó. Nhưng thật may mắn khi cháu đã được đọc cuốc sách này. Và may mắn hơn nữa khi cháu bắt gặp được địa chỉ mail của chú in đằng sau bìa sách. Có thể bức thư này của cháu quá là mạo muội, những lời lẽ trong thư có thế chưa làm chú hài lòng, nhưng đây chính là những suy nghĩ của cháu, một cô bé 18 tuổi. Và cháu tin rằng trong tương lai cháu sẽ còn được đọc nhiều tác phẩm khác của chú.
Cháu hi vọng rằng búc thư này sẽ được chú đọc vào thời điểm gần nhất có thể, và nếu chú không phiền thì xin chú hồi âm cho cháu. Xin cảm ơn chú vì đã đọc bức thư này của cháu. Chúc chú luôn mạnh khỏe để có thể cho ra đời những tác phẩm còn hay hơn nữa.

Vũng Tàu, ngày 17 tháng 8 năm 2008

Người hâm mộ chú.


Nguyễn Thị Mai Phong.

Khoảng mười ngày sau, trên đường từ Nha Trang về Sài Gòn, tôi rẽ sang Vũng Tàu và gặp cháu Mai Phong. Và, cuộc gặp gỡ nầy đã bắt đầu cho những câu chuyện khác.

Phóng sự: MỘT NGƯỜI SỬA XE ĐẠP Ở VŨNG TÀU

Tôi ngồi dưới gốc cây trứng cá xem vợ chồng Ba Bình sửa xe đạp. Trên vỉa hè một góc đường lớn, phía sau là bãi đất trống, phía trước là một vòng xoay bao quanh đài liệt sĩ. Một trong những cảnh quang đẹp của thành phố Vũng Tàu. Ba Bình nói anh ngồi đây đã mười tám năm rồi, từ khi bé Mai Phong – con gái út của anh – còn ẳm trên tay, bây giờ nó đã thi đại học. Mười tám năm với biết bao kỷ niệm buồn vui. Mười tám năm, khách hàng của anh đã có những người xài mấy đời xe đạp, có những người từ xe đạp lên xe hơi, anh vẫn là thợ sửa xe đạp. Mười tám năm, bao nhiêu vật đổi sao dời, hai đời chủ tịch phường vào tù ra khám vì chuyện đất đai, anh vẫn là thợ sửa xe đạp. Ba Bình kể lại như một chuyện vui, rằng, ông chủ tịch phường hồi ấy mỗi lần đi qua đây đều dừng xe lại, quát: “Dẹp nghe chưa, không được làm mất mỹ quan đô thị !”. “Dạ, em sẽ làm gọn lại thôi, chứ dẹp rồi lấy gì sống, anh thông cảm !”. Hai người hàng ngày cùng đưa đón con chung một cổng trường, thỉnh thoảng đậu xe gần nhau, Ba Bình lắm lét không dám nhìn. Khi ông ấy vào tù, rồi ra tù, lại đi đón con. Lúc ấy gặp nhau, Ba Bình vui vẻ hỏi: “Anh về từ bao giờ ?”. Ông ấy lại quay đi. Trời xui đất khiến, khi ra tù, ông ấy dời nhà về ở gần với Ba Bình cũng là lúc Ba Bình được dân bầu lên làm phó ban điều hành khu phố kiêm tổ trưởng dân phố. Ông ấy làm môi giới nhà đất, thỉnh thoảng lại dựng bảng quảng cáo chiếm lòng lề đường, buộc Ba Bình phải nhắc nhở. “ Lúc đầu mình cũng ngượng lắm ông ạ - Ba Bình nói – nhưng bây giờ thì hiểu nhau, thân thiện rồi. Đời người mà, cái gì cần qua thì cứ cho qua. Sống thiệt thà, thân thiện với nhau là cái chính. Tôi sống được là nhờ bà con thương. Những khi tôi bệnh phải nằm nhà, bà con dẫn xe ra đây, không có tôi thì dẫn về chờ chứ không mang đi chổ khác, hôm sau xe dồn cả đống, vui lắm !”

Hỏi kỷ niệm nào đáng nhớ nhất, Ba Bình nói cách nay hơn mười năm, khỏang chín giờ tối, có một người đàn ông say rượu, chạy chiếc honda đến bỏ ngang dưới công viên rồi đi đâu mất biệt. Biết chuyện không bình thường nên thay vì về nhà, Ba Bình ngồi nán lại trông hộ chiếc xe. Đến nửa đêm, người đàn ông kia vẫn chưa trở lại, Ba Bình dắt chiếc xe về nhà rồi lên báo với công an phường. Hôm sau, khi nhận lại chiếc xe, người đàn ông ấy xúc động đến không nói nên lời. Ông lặng người nhìn ngôi nhà Ba Bình, toàn gổ tạp, ván tạp, tol vụn, thùng bia, cao su . . . ông giới thiệu mình là giám đốc một công ty vật liệu xây dựng khá nổi tiếng và nhã ý tặng Ba Bình một số cát đá, xi măng, gạch ngói để xây lại ngôi nhà. Ba Bình kiên quyết từ chối: “Cuộc đời có kẻ trộm thì cũng có người canh phòng trộm, việc làm bình thường của tôi, có gì ông phải đền ơn, phải nghĩ nhiều đến thế ?”. Ông kia lại nói: “Thay vì anh phải ngồi sửa xe, để tôi đổ vật liệu cho anh bán, lời anh hưởng, vốn trả lại tôi”. Ba Bình lại từ chối: “Tôi chỉ biết sửa xe, không biết buôn bán”. Cuối cùng, người chủ xe chỉ còn cách kết bạn với anh.

Hỏi vì sao anh lại chọn cái vòng xoay nầy để mưu sinh, Ba Bình nói, cuộc đời anh cũng như cái vòng xoay. Là người gốc Hà Nội, nhà dưới chân cầu Thăng Long. Năm 1978, cưới vợ xong thì đi lính Hải quân, căn cứ đóng tại Vũng Tàu nhưng suốt mười năm cứ lênh đênh trên biển theo đội tuần tra. Mỗi năm về phép được một lần. Ba đứa con gái lần lượt chào đời trong bữa cháo bữa rau, gánh nặng mưu sinh oằn vai người vợ trẻ. Năm 1990, Ba Bình xuất ngũ. Nhìn lại đời lính chẳng có gì ngoài mấy trăm ngàn tiền trợ cấp, tom góp mua được năm chỉ vàng. Cha mẹ qua đời, để lại cho hai anh em một ngôi nhà nhỏ với vài trăm mét vuông đất. Nhưng người anh trai lại quá nghèo, phải gồng gánh năm đứa con ăn học. Ba Bình nói với anh: “Em sẽ làm giấy giao phần đất của em lại cho các cháu, vợ chồng em vào Nam lập nghiệp”. Người anh xúc động đến rưng rưng nhưng chẳng nói được với em lời nào.

“Cháu tôi bây giờ đã học hành đỗ đạt, nhiều đứa giỏi dang, khá giả. Giờ mỗi lần tôi về thăm quê, đứa nào cũng dúi cho một ít tiền. Thấy chúng nó ngoan, mừng lắm ! Nhiều khi tôi nghĩ, nếu ngày ấy mình không đánh bạo ra đi, biết đâu giờ anh em chú cháu chết chùm trong nghèo khó”.

Trở lại cái vòng xoay, Ba Bình nói, hồi mới vào đây, anh ở trọ nhà người chú họ gần chổ nầy, thấy cái vòng xoay nhiều xe đạp qua lại, vậy là cầm cờ lê mỏ lết ra đây ngồi sửa xe. Thế thôi. Còn vợ anh, chị Ngợi, lúc đầu đi làm trong nhà máy đông lạnh, người ta bắt làm vệ sinh, suốt ngày cứ cầm xô múc nước, dội rửa, sức khỏe không chịu nổi, bỏ ra làm phụ hồ, lại tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, làm nặng đã đành, chậm một chút bị cai thầu mắng chửi. Thấy vợ khóc, Ba Bình bảo: “Thôi, ra bùng binh ngồi sửa xe với anh”. Ban đầu phụ việc, rồi thành thợ lúc nào không biết.

Bà chủ đất, chỗ Ba Bình ngồi sửa xe có hơn ngàn mét vuông bỏ trống, thấy Ba Bình hiếu thảo với người chú họ như cha ruột, đâm ra thương anh như thương con ruột: “Nhà chú mầy chật hẹp quá, tao cho mượn cái nền chỗ sửa xe đó, cất nhà ở đi”. Ba Bình nói: “Ở rồi biết khi nào trả, hay là bác bán đi, cháu mua, nếu không đủ thì cho cháu nợ”. Bà lão nói bán thì bán, lấy bảy chỉ vàng. Không ngờ số phận mĩm cười với Ba Bình. Năm chỉ vàng tích lũy từ tiền trợ cấp ra quân, sửa xe hai năm mua thêm được hai chỉ, vừa đủ. Thế là có được cái nền hơn 80 mét vuông. Ba Bình đi mua cây vụn, tol vụn, ván vụn, giấy carton vụn, thùng bia . . . đắp vá được một căn nhà. Ai dè năm năm sau, nhà chức trách hô giải tỏa, cư trú bất hợp pháp, không đền bù. Thế là đi kiện. Vừa kiếm sống vừa đi kiện. Nhọc nhằn cả năm. Cuối cùng cũng được đền bù một cái nền tái định cư trong hẻm.

Mười tám năm vật lộn với nắng mưa ở cái vòng xoay nầy, vậy mà Ba Bình luôn thanh thản, lúc nào cũng “bỏ áo trong thùng”, lúc nào cũng cười giòn với khách. Rảnh tay thì hai vợ chồng đọc báo, đọc sách. Anh nói thiếu cái gì chớ sách thì không thể thiếu được. Mỗi cuốn sách mua về, cả nhà chuyền tay nhau đọc. Bữa cơm tối của gia đình cũng là cuộc đối thoại về sách, bố cảm nhận thế nầy, mẹ cảm nhận thế kia, các con cảm nhận thế nọ. Hỏi chuyện học hành của các cháu, Ba Bình cho hay, cháu Thùy Vân vừa tốt nghiệp đại học sư phạm tóan-tin, vừa đi dạy vừa ôn thi cao học ở Sài Gòn. “Con bé có chí lắm, cách nay bảy năm, nó thi rớt đại học, về nhà học may rồi đi làm thợ, ngày đi may, đêm về ôn thi, ba năm sau nó đậu cùng lúc ba trường đại học: Sư phạm, Bách khoa, Công nghệ thông tin. Nhưng nhìn đi nhìn lại thấy nhà nghèo nên nó chọn Sư phạm cho giảm bớt chi phí. Con bé thứ hai rất tội nghiệp, hồi nhỏ học rất giỏi nhưng đùng một cái, bị viêm phế quản, tay bác sĩ chích thế nào bị phạm thuốc, con nhỏ á khẩu hơn một năm, sau đó trí nhớ bị chập chờn cho đến bây giờ. Con Út, bé Mai Phong, vừa thi đại học, chưa biết kết quả ra sao.

Từ giã Ba Bình, tôi về Sài Gòn được vài hôm thì bé Mai Phong gởi mail cho hay: “Chú ơi cháu đậu cả hai trường, đại học Công nghiệp và Y dược . . .” Biết Ba Bình không có điện thoại để gọi chúc mừng anh, đành phải reply cho cháu Mai Phong: “Chúc mừng cháu và cho chú gởi lời chúc mừng ba cháu !”

ĐOẠN KẾT

Bài viết nầy đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị được hai ngày thì tòa soạn gọi điện cho tôi hay, công ty bảo hiểm Ace Life của Mỹ có nhã ý tài trợ cho cháu Mai Phong một học bổng suốt chương trình đại học, họ cần số điện thoại để liên lạc trực tiếp với anh Bình.

Hai ngày sau, anh Bình gọi điện cho tôi, giọng hồn nhiên: “Cảm ơn bài báo của anh, nhưng tôi muốn tham khảo với anh thế nầy, cuộc sống của tôi dù sao cũng tốt hơn nhiều người khác, tôi muốn nhường suất học bổng nầy lại cho một sinh viên khác có hoàn cảnh khó khăn hơn bé Mai Phong, anh giới thiệu cho họ một đối tượng khác được không ?”. Tôi nói, nghèo hơn anh thì nhiều, làm sao đếm hết, nhưng tôi muốn anh nhận suất học bổng nầy cho cháu Mai Phong, bởi dù sao, đây cũng là một kỷ niệm giữa tôi với anh. Sau giây phút ngập ngừng, Ba Bình đồng ý, có lẽ vì anh sợ tôi mất vui.

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2008

GẶP LẠI BÀ LÃO BÁN BÁNH CHUỐI




Tối nay đưa Út cưng đi nhà sách Sài Gòn, gặp Dì Cúc, Dì mừng rỡ như gặp người thân đi xa mới về. Vừa ngồi xuống,Dì khoe: "Người ta mới cho tôi 200 đô-la, mấy ngày nay tôi trông cậu ra để tôi khoe". Rồi Dì kể, tiền ấy là của ca sĩ Việt kiều Mỹ La Sương Sương, trước khi qua đời, cô gởi lại cho một tổ chức từ thiện bên Mỹ một số tiền khá lớn với mong ước giúp đỡ bà con nghèo ở Việt Nam. Dì nhận số tiền ấy từ một nhân viên nhà sách Sài Gòn với mấy dòng thông tin ngắn gọn như thế. Trước đó, cũng có một người qua đường ghé cho 100 đô-la nhưng không nói tên. Có một sự trùng hợp khá lý thú, một buổi chiều, một người khách đến mua bánh và hỏi thăm câu chuyện của Dì trên báo SGTT, cùng lúc ấy, cô chủ nợ đến góp tiền vay, người khách hỏi bao nhiêu, Dì nói một triệu, người khách mở bóp lấy ra một triệu sáu, đưa cho người chủ nợ một triệu, đưa cho dì 600 ngàn, bảo làm vốn buôn bán. Dì say sưa kể: "Từ ngày cậu đưa tôi lên báo tới nay, khách qua đường cho tôi gần 10 triệu đồng, bánh thì bán gấp đôi lúc trước. Tuần rồi, ủy ban phường xuống mời tôi đi họp tổ dân phố, họ nói trước giờ không biết hoàn cảnh của tôi, giờ biết rồi, phường quyết định cho thằng khùng 6 triệu đồng, cứ mỗi lần được người ta giúp thì tôi muốn gặp cậu để tôi khoe".
Cứ thế, Dì say sưa kể. Khi tôi ra về, Dì chạy theo dúi vào tay Út cưng một gói quà, mấy cái bánh chuối nướng, vài miếng bánh bò, bánh da lợn. Út cưng nhét vào túi Dì tờ 10 ngàn, Dì kiên quyết trả lại. Thấy cái cảnh hai bà cháu đùn qua đẩy lại mà buồn cười, tôi bảo "nhận đi con, cho bà vui".
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2008

Trả lời phỏng vấn tạp chí Người Đô Thị




Nguồn: Người Đô Thị
Tháng 10/2008

Ký Võ Đắc Danh – người nông dân viết

Nguyễn Thị Ngọc Hải


Anh lại đọat giải nhất thi bút ký báo Văn nghệ với câu chuyện bà mẹ già và người con trai “sắp già” chưa lấy vợ vì bận nuôi 10 trẻ mồ côi trên đỉnh núi Cấm An Giang, Người Đô Thị có cuộc trò chuyện trước ngày anh ra Hà Nội nhận giải.

I. Kiểu “bolero” bình dân

PV: Các giải thưởng văn học ở ta ít gây được tiếng vang. Trong giới văn chương lại hay ồn ào tung hô một số người đôi khi rất “vô lối”. Nhận giải thưởng về ký, cảm tưởng của anh thế nào?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Tôi được nhiều giải về ký rồi. Đồng bằng Sông Cửu Long 2 giải. Lần này bút ký “Cổ tích trên đỉnh Mồ Côi” giải nhất. Một cuộc chơi. Vì cái này đẹp, dễ chấm, chứ không gai góc. Kỳ thi về “Việt Nam Tổ quốc tôi” thì cái này chỉ là câu chuyện cá biệt, không đại diện phản ánh được vấn đề gì lớn của đất nước. Giải thưởng chỉ tạo quan tâm của người dự thi. Tôi không bao giờ viết với tâm lý dự thi cả.

PV: Có người nói ký Võ Đắc Danh “ăn theo” cái dễ xúc động là chuyện người nghèo khổ và ký của anh kiểu “bình dân Sài Gòn xưa” – chứ chẳng có cách tân kỹ thuật hiện đại nào trong bút pháp. Anh thấy đúng hay sai?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Có thể đúng ở khía cạnh nào đó. Tôi không tìm kiếm kỹ thuật, không sa đà vào định hướng nào. Tôi giãi bày, tư cách người kể chuyện với bạn đọc cái tôi bức xúc. Tôi là người viết của bình dân. Không đi vào thân phận con người e vô cảm. Nghệ thuật không tìm sự đồng cảm thì tìm gì. Bỏ qua đồng cảm thì nghệ thuật không còn gì. Gu của tôi là “bolero”. Người đọc mọi thành phần, ai cũng cảm được, không sang trọng chữ nghĩa.

PV: Anh viết cả trăm bút ký và có “thương hiệu”. Có thể tóm đặc điểm ký “kiểu Võ Đắc Danh” là gì?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Đặc điểm: viết về nông dân và dân nghèo thành thị, có sẵn tâm, bao giờ cũng xúc động trước số đông đó. Cách viết: giấu cái tôi, sử dụng chất liệu thông qua chi tiết đời sống. Để tự câu chuyện nói. Mộc mạc, không thủ pháp, không kỹ xảo, kỹ năng. Mạnh nhất là chất liệu.

PV: Còn bao nhiêu nhân vật, câu chuyện thời đại khác, doanh nhân, trí thức không làm anh rung động hay sao?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Tôi cũng viết đấy chứ. Những nhân vật trong ký của tôi như Phan Văn Xoàn, Trần Bá Dương, ông chủ Sông Đốc… là khó kiếm. Những người chân chính đủ tạo cảm xúc mạnh thì ít vì kinh tế chuyển đổi sang thị trường, con người phải chụp giựt nhiều hơn. Giàu có mà nhân cách phẩm chất còn kiếm hoi.

PV: Nói thế anh không sợ bị giận sao?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Không sợ giận. Tôi quí trọng những người đóng góp làm giàu cho đất nước, hàng ngày giờ thay đổi đời sống kinh tế. Nhưng có cảm nhận từng mức độ. Thí dụ, cuộc thi rồi trong các bài ký được giải viết về ông gốm sứ Minh Long thì tôi chịu. Tôi quý ông đi lên từ nghèo khổ, sống chết với nghề. Còn ông doanh nhân kiểu nào đó giàu lên làm sân sau của quan chức, được cấp cho nhiều đặc lợi làm ăn. Người như thế, cho chị 100 triệu, bảo chị viết về họ, chị có cảm xúc nổi không?

II. Ra khỏi đường nhựa thấy gì?

PV: Anh viết nhiều về nông dân, vậy anh thấy đời sống họ có khá lên? Không lẽ họ không được hưởng lợi gì (dù ít hơn) trong cuộc chuyển đổi kinh tế và phát triển đất nước?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Nông thôn nghèo hơn. Xơ xác. Chị thử đi một lần. Ra khỏi đường nhựa là nhà không ra nhà, người không ra người, bần cùng tăm tối. Tôi đã có làm phim tài liệu giữa rừng U Minh. Cảnh con nít mặt mày vằn vện ăn chuối luộc thay cơm, khán giả không cầm được nước mắt. Miền Tây thì những người không nhà cửa, sống trên ghe giăng câu thì nhiều.

PV: Anh thử tả một cảnh nghèo nhất dã gặp?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Thí dụ một gia đình ở lòng hồ Trị An. Sống lều bạt, xuồng câu, gạo chạy từng ngày. Bốn con. Vợ liệt ngồi xe lăn. Không điện. Không chữ nghĩa. Tất cả đều không. Mà sống cách Thủy điện Trị An chỉ 1 km. Nghe bạn đi trên đó về nói họ khổ. Tôi tới xem nó coi sao.

PV: Có phải vấn đề đô thị hóa và đất đai là thủ phạm?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Ảnh hưởng vùng ven phát triển tới đâu phát sinh tới đó. Nhiều người bị cưỡng ép giao đất, đền bù. Thí dụ ở Nhơn Trạch tôi biết có công ty do tư nhân núp bóng. Xí phần 7-8 mẫu, huyện ra quyết định thu hồi. Một mét vuông nhà đầu tư đền dân 39.000đ. Không đi, cưỡng chế. Rồi chưa đổ đất, họ đã bán lại 9 triệu 1 mét vuông. Thường theo “công thức” ai cũng biết: Doanh nghiệp nói với chính quyền. Phê duyệt, ký quyết định thu hồi đất. Đền bù giá rẻ đi đâu thì đi. Đất giao nhà đầu tư. Chính ra nhà đầu tư không hưởng nhiều bằng chính quyền.

PV: Nhưng người ta bảo mở mang, cần đất xây dựng là quy luật của phát triển?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Đồng ý phát triển. Nhưng có công thức tốt sao không làm. Cho dân góp vốn bằng đất của họ, họ cũng được hưởng lợi từ vốn đó. Phát triển là qui luật, phải nghĩ quyền lợi của người nông dân trước đã. Không thể một chủ dự ánh làm giàu, trăm ngàn nông dân khốn khó. Thực tế, không dự án nào có dự án an sinh xã hội đi kèm. Đưa ra một cục tiền, đi đâu thì đi. Đừng biện minh cho sự cướp bóc. Tôi đã viết “Trên đồng bưng 6 xã” đăng trên báo Văn Nghệ một gia đình đặc công rừng Sác nay mất đất. Bị gài độ phản ứng đến nỗi vợ con vô tù. Phải nói nơi đó là tột đỉnh tội ác.

PV: Anh viết ký, kể rõ người thật việc thật, có địa chỉ cụ thể, đăng công khai, vậy có tác dụng hoặc phản hồi gì không?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Ký của tôi chỉ nói nhiều điều đánh động lương tâm, làm giàu cho lòng nhân ái được khơi dậy trước số phận con người. Nhưng vẫn không làm cái ác giảm đi được. Thực tế chứng minh nhiều bài bút ký về đất đai, mafia cướp đất, họ chỉ im lặng hoặc chựng lại một thời gian rồi lại tiếp tục. Nó không làm cho kẻ vô cảm có cảm xúc.

PV: Vậy sao anh không dành hẳn phản ánh bộ mặt phía cái ác, có giá trị tác động vào cái ác hơn là cứ tả mãi phía nghèo khổ chịu đựng?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Có lần tôi đã thử làm thế. Miêu tả đối tượng là cái ác. Thí dụ, ở Long An, có cả ngàn dân mất cả ngàn mẫu đất. Cảnh cưỡng chế 2 hộ dân, có công an, cứu hỏa, cần cẩu, cứu thương, xe bít bùng bắt người… đủ cả. Bà phó giám đốc của công ty Tân Đức còn mắng: Chính quyền cưỡng chế không “máu lửa” gì cả, và người của họ nhào vô làm. Hay như cái vụ ở Nhơn Trạch, chính chủ tịch huyện chỉ huy cưỡng chế, chính quyền trở thành công cụ của các nhà đầu tư. Báo in ra, có người bỏ tờ báo gửi cho chính chủ tịch huyện đọc. Tất cả đều im lặng, không có trả lời.

PV: Anh thấy người nông dân không có thái độ hoặc cách gì sao?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Người nông dân ở trình độ dân trí thấp, lo ăn không xong, không tự tìm lối thoát. Phải từ nhà nước, các nhà đầu tư.

III. Phẩm giá thời đại

PV: Vậy anh thấy phẩm giá của thời đại chỉ có ở người nghèo khổ cam chịu và những tấm lòng tốt như ở cổ tích thôi sao? Dòng phẩm giá tử tế trong xã hội tồn tại như thế nào?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Người ta cứu giúp nhiều. Ở người nghèo khổ, sự vươn lên không phải không có. Nhưng họ luôn dừng trong chừng mực là sống có phẩm giá và không đương đầu nổi với cái ác. Nếu không khơi dậy cộng đồng cứu giúp thì suy sụp bế tắc. Thí dụ khi tôi viết “một bà mẹ chưa được tôn vinh”. Một bà đánh tàu, biệt động, 2 vợ chồng thương binh. Bà bảo con phải học tử tế mới thoát nghèo. Một ngày bả chèo 50km. Lá chuối đọt dừa cũng bán, dựng chòi nuôi con ăn học. Hai con gái lớn tốt nghiệp sư phạm đi xin việc, họ đòi 3 cây vàng. Chịu. Tôi cầm tờ báo đưa các cơ quan chức năng, các cô được nhận dạy học, 1 doanh nghiệp cho cậu con trai máy tính vì cậu học CNTT, được mua nền nhà giá thấp trả góp. Đó chỉ là thí dụ hy hữu cứu giúp được thôi.

PV: Vậy cái đích của anh là tìm sự đồng cảm giúp đỡ của xã hội? Có người nói anh viết ở Sài Gòn Tiếp thị có đối tượng đọc riêng kinh doanh - tiêu dùng, người nghèo ít đọc?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Người nghèo có đọc báo nào đâu. Chỉ đọc báo Công an. Tôi cũng tìm cách đăng trên Văn nghệ. Tưởng chỉ mấy cha nhà văn đọc. Nhưng sau tôi thấy người đọc Sài Gòn Tiếp Thị nhiều mặt bằng văn hóa khác nhau và quan trọng là họ hành động. Đối tượng có vẻ là người trung lưu, doanh nhân, tiểu thương, nhưng nhiều người đọc không chỉ tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Tôi không tham vọng gì cả. Tôi không xác định mình làm văn hay báo. Giới báo gọi tôi là nhà văn. Giới văn gọi tôi là nhà báo. Ai gọi gì kệ. Tôi là người nông dân cầm bút, không gì khác hơn. Người cầm bút có viết hay không là ở cảm xúc. Câu chữ uốn éo không là chỗ dựa. Vui nhất là nhân vật được giúp đỡ. Buồn nhất là nhân vật mình chịu bất công không cứu giúp được gì, bao nỗi đau rơi vào im lặng. Tôi không có quyền lực gì cả, chỉ là công cụ của dân thấp cổ bé họng. Trong nền dân chủ chập chờn, tôi tranh thủ làm công việc đó của mình. Nhà báo phải xem đó là trách nhiệm

IV. Trên “lốc’ thấy sự tử tế

PV: Anh mới mở blog 3 tháng, nghe nói thiên hạ vào nhiều lắm.

Nhà báo Võ Đắc Danh: Bài của tôi trên báo mạng người ta biết hơn báo giấy. Trên đó rạch ròi sân chơi từng đối tượng. Qua comment, người ta phản hồi nhiều. Còn sách báo đâu biết được. Qua “lốc” thấy được sự tử tế cuộc đời còn rất nhiều. Tôi không đi xa khám phá. Chỗ nào có chất liệu con người đáng chia sẻ thì viết. Nhiều điều giản dị mà phấn đấu mãi đã được đâu. Sơn Nam có viết câu chuyện ông cắt tóc vỉa hè bị hỏi hộ khẩu, trả lời: là công dân nhỏ lớn không biết hộ khẩu. Ông hiểu thế nào là Tổ quốc? “Là một nơi có thể sống được bằng một nghề lương thiện và có những người bạn chơi được, đừng ba trợn.” Khát vọng của ông già hớt tóc ấy nay hàng triệu người không có. Chị nghĩ xem, bao người còn đi tìm 2 cái đó. Đâu đơn giản. Mới thấy ông già Sơn Nam ghê. Sức mạnh đâu phải ngoằn ngoèo câu chữ “Đổi mới”.

V. Không thể quay lưng

PV: Anh đến với ký như thế nào?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Tôi đến với nghề viết ngẫu nhiên. Đi học trễ. Nhà nghèo. Một bữa ra công viên ngồi, anh bạn làm báo đi ngang ngồi lại nói chuyện, rủ đi làm báo. Thử việc có một cái tin nhận ngay. Nghe đọc truyện đêm khuya, mê nhất cái ký Cô Tô của Mai Văn Tạo. Rồi mê ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân. Làm việc ở báo Minh Hải, về Hội VH-NT Minh Hải. Lên Sài Gòn làm phim tài liệu, tính nghỉ viết. Rồi làm Trưởng VPĐD báo NLĐ ở miền Tây, làm báo Pháp Luật, rồi báo Sài Gòn Tiếp Thị. Trong các sự kiện lúc đi làm báo, thấy có chất liệu đời sống nhiều, tôi viết ký. Tôi không ý thức thể loại. Viết gì nó cũng thành ký thôi à.

PV: Cuộc sống gian truân chắc là lợi thế cho anh trải nghiệm để viết ký về người nghèo khổ?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Có chứ. Tôi xuất thân gia đình nông dân, kháng chiến, đội bom đội đạn, nuôi chứa cán bộ. Sau 75, tôi vẫn là nông dân. Mẹ tôi từng giấu bao lúa trốn chiến dịch thời cải tạo kinh tế. Tới thời lúa rớt giá nông dân bị bỏ rơi. Nay thời nông dân “bị cướp đất”. Cái gì cũng trải. Hỏi gốc mình thế này, nhìn nỗi khổ không đau xót sao được. Bản thân từng nuôi tôm, nuôi trăn, làm da trăn, lái tôm, vỡ nợ, lăn lộn với thương trường. Xuống Gành Hào vay nợ nuôi tôm 3 tháng, ngày xổ tôm chủ nợ ngồi cống chờ. Tôm chết sạch.

PV: Anh từng gặp nhiều tai nạn vì các bài ký của mình như thế nào?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Hồi ở Cà Mau, viết ký đụng vấn đề nông dân bị áp bức, cường hào, cải tạo nông nghiệp. Có lần bí thư Tỉnh ủy ra lệnh bắt nhưng VKS không ký. Có cả lần viết báo Văn nghệ trẻ bị thu thẻ nhà báo đến nỗi có ông ở tòa soạn báo dặn nhau: Thôi, không đăng bài thằng Danh nữa. Nhưng tôi không thể quay lưng lại với những người khốn khó. Những kẻ chối bỏ, quay lưng sẽ biến đổi nhân cách.

PV: Vậy trong công việc anh gặp nhiều niềm vui không?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Vui vì nhìn thấy lòng trắc ẩn còn rất nhiều trong xã hội và nhìn thấy phẩm giá của người bình dân. Tôi viết bà bán bánh chuối ở nhà sách Lê Lợi. Buôn bán nuôi hai đứa con khùng, đứa xơ gan. Nhà 8m2 – xã hội cả ngàn người như vậy. Nhưng một chi tiết: một ngày bà đi bán bằng hai cuốc xe ôm 30 ngàn. Có tối tôi bảo để tôi đưa dì về, con gái tôi nghe chuyện cũng muốn đưa bà về. Bả từ chối: Tội nghiệp chú xe ôm đang chờ. Dì đâu bỏ chú. Mưa gió gì người ta cũng đợi mình. Câu chuyện cổ tích trên núi Mồ Côi cũng vậy. Anh Bông ngoài 40 tuổi cũng chưa lấy vợ, lo cho lũ trẻ mồ côi. Điều kiện của anh: thà ở giá, còn ai đến với anh phải vì những đứa bé. Nghe đâu bên Mỹ có cô Việt kiều gửi thư. Cả chục cô rồi, muốn “nhẩy” vào tham gia chuyện cổ tích. Anh còn đang “úp mở” chưa nói. Bà mẹ sẽ già đi. Anh Bông có tiếp tục hay không. Việc nuôi nấng, học hành của mười đứa trẻ trên đỉnh núi ra sao. Cổ tích có hậu người xưa giải quyết bằng phép màu.

PV: Anh dự định viết tiếp về vấn đề gì?

Nhà báo Võ Đắc Danh: Chắc phải tiếp tục. Tôi ít đọc lại cái đã viết. Nếu không làm cái mới chính tôi sẽ tự chán mình.

PV: Xin cảm ơn anh.

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

23-10-08

-->đọc tiếp...

ÔNG VUA CÓ CÁI LỖ TAI LỪA





Truyện cổ thời Chiến Quốc kể lại rằng, vua nước Ngụy một hôm ngủ dậy bỗng dưng hai cái lỗ tai của Ngài bị biến thành hai cái lỗ tai lừa. Ngài hốt hoảng cho gọi quan Ngự y. Quan Ngự y sau khi xem mạch xong, thất vọng nói:

-Muôn tâu Bệ Hạ, bệnh nầy do tâm mà sinh ra nên thần đành bất lực. Xin Bệ Hạ cho gọi Thiền Sư may ra ông ấy tìm ra căn nguyên và giải pháp.

Nhà vua ra lệnh chém đầu quan Ngự y và cho mời Thiền Sư. Thiền Sư sau khi chiêm nghiệm, bèn tâu:

-Muôn tâu Bệ Hạ, lẽ ra Bệ Hạ không nên ra lệnh chém đầu lão Ngự Y.

-Vì sao ?

-Dạ, vì lão ấy nói đúng.

Nhà vua nổi giận:

-Ngươi . . . Ngươi nói sao ?

-Muôn tâu Bệ Hạ, nếu thần nói ra, e rằng thần cũng sẽ mất đầu.

-Ta cho phép ngươi nói.

-Đội ơn Bệ Hạ ! Đúng là bệnh của Bệ Hạ so tâm mà sinh ra.

-Ngươi hãy nói rõ hơn !

-Dạ, muôn tâu Bệ Hạ ! Trời sinh ra con người có hai cái lỗ tai là để nghe, nhất là bậc đế vương như Bệ Hạ, hai cái lỗ tai cần phải thính hơn, biết lắng nghe nhiều hơn để trị vì thiên hạ. Nhưng ngược lại, Bệ Hạ ít khi chịu nghe, hoặc chỉ thích nghe những lời ton hót, sàm tấu của bọn nịnh thần. Bao nhiêu tiếng kêu oan của bàn dân thiên hạ đều bị Ngài gạt bỏ ngoài tai. Mới đây, Ngài lại nghe lời bọn nịnh thầi cho dẹp trống kêu oan đã làm cho dân tình ta thán, oan ức trong dân ngày một chất chồng bởi bọn tham quan ô lại mà họ không còn chỗ đểu kêu oan . . . Trời đã phạt Bệ Hạ, gắn cho Bệ Hạ hai cái lỗ tai lừa, tượng trưng cho một loài vật đần độn không biết nghe . . .

-Câm miệng lại . . . ! Ta tha cho ngươi tội chết như đã hứa. Nhưng, ngươi mà tiết lộ cái lỗ tai của ta với bất kỳ ai thì ngươi sẽ bị tru di tam tộc, tứ mã phanh thây.

Từ hôm ấy, nhà vua thông báo cấm cung vì long thể bất an. Còn lão Thiền Sư thì tâm trạng cũng nặng nề. Nói ra thì sẽ bị tru di tam tộc, tứ mã phanh thây. Mà không nói ra thì không chịu nổi, sự chất chứa ấy làm cho cái bụng của lão trướng lên, càng ngày càng to như phụ nữ mang bầu. Một hôm, khi cái bụng phình lên đến mức không còn sức chịu đựng nữa, lão âm thầm vác dá vào rừng sâu, đào một cái hố thật sâu rồi nhảy xuống, miệng lẩm bẩm: “Ông vua có cái lỗ tai lừa, ông vua có cái lỗ tai lừa . . .”. Thật kỳ diệu thay, lão cứ lẩm bẩm như thế thì cái bụng nhỏ dần, nhỏ dần rồi trở lại trạng thái bình thường.

Nhưng cũng kỳ diệu thay, đất nghe lời của lão rồi khi cung cấp dinh dưỡng cho rễ cây, truyền luôn cái âm thanh ấy. Rễ cây khi mang nguồn dinh dưỡng cho thân cây, cũng mang cái âm thanh ấy theo. Cả một rừng cây xung quanh cái hố của lão Thiền Sư bỗng lớn nhanh và tươi tốt lạ thường.

Rồi một ngày nọ, một tốp lính canh của triều đình kéo vào cánh rừng ấy đốn tre làm mõ. Khi gõ mõ thì một âm thanh lạ phát ra: “Ông vua có cái lỗ tai lừa”. Không ai hiểu gì, họ cứ đồn đại với nhau và rủ nhau vô rừng đốn tre làm mõ. Ai thấy lạ cũng gõ, nhà nhà gõ mõ, người người gõ mõ. Từ đầu làng cuối chợ, đi đến đâu cũng nghe râm ran cái âm thanh: “Ông vua có cái lỗ tai lừa”. Lão Thiền Sư biết rõ nguyên nhân nhưng không dám nói ra. Còn nhà vua thì không chịu đựng nổi tiếng mõ tấn công dồn dập nên sinh bệnh mà chết.

Phải chăng, cụm từ “tiếng mõ của dư luận” có xuất xứ từ câu chuyện nầy ?

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2008

PHÍA SAU LÀ BÓNG MẸ




Giám đốc công ty Cosin Trần Quang Phụng - Phía sau là hình ảnh Mẹ anh


-Cái may mắn của tụi em là có được người cha, người mẹ quá tuyệt vời !

Ngồi trong quán cà phê Góc Phố, Phụng cứ lập đi lập lại câu ấy đến ba bốn lần. Rồi anh kể, những năm học cấp ba ở Định Quán, Phụng có một người bạn thân cùng xóm lại cùng lớp, buổi tối hai đứa thường đi bộ ra thị trấn học thêm, cách nhà gần năm cây số, đêm nào về cũng đến nửa khuya, đường vắng, sợ ma. Có lần trên đường về, hai đứa phát hiện một người đàn ông say rượu nằm sảy bên đường, chiếc xe đạp vứt trong đám cỏ, hóa ra đó là cha của bạn mình. Phụng giúp bạn khiên cha về nhà rồi mới trở ra chạy chiếc xe về cho bạn.

Lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba . . . rồi nhiều lần Phụng chứng kiến cảnh ấy suốt ba năm học phổ thông cuối cấp, Phụng cảm thấy thương bạn vô cùng. Nhiều đêm trên đường về, người bạn ấy vừa khóc vừa tâm sự với Phụng: “Mầy nghèo nhưng có phước hơn tao, cha mẹ mầy làm tất cả để cho anh em mầy ăn học, còn cha tao đã thế lại cứ bắt tao phải nghỉ học để ở nhà làm ruộng”.

Phụng không tiết lộ danh tánh người bạn của mình, nhưng anh cho biết, khi anh vào đại học thì người bạn ấy thi rớt, phải học trung cấp. Mấy năm sau, anh ta vừa làm vừa học đại học, bây giờ đã trở thành một người thành đạt, giàu có ở Sài Gòn.

Phụng kể câu chuyện ấy để đi đến một kết luận rằng: “Nếu em rơi vào hòan cảnh ấy, chưa chắc gì em đã vượt qua. Cái may của em là có được người cha, người mẹ quá tuyệt vời !”

Tôi hiểu vì sao Phụng không nói về mình, bởi với anh, tất cả đều do cha mẹ tạo nên, ngay cả cái công ty do anh sáng lập và làm chủ bây giờ – công ty kỹ thuật điện và tự động hóa Cosin – trong tâm thức của anh nó cũng bắt đầu từ ý chí và giọt mồ hôi của cha và mẹ.

Nhưng ngược lại, với mẹ anh – dì Tư Cúc, ở Định Quán dì có cái tên là dì Bốn bán chuối – dì không hề biết công ty của Phụng tên gì, ở đâu và làm nghề gì. Dì chỉ biết rằng cả năm người con trai của dì đã tốt nghiệp đại học và điều quan trọng nhất là tất cả đều trở thành người tử tế.

Hôm ấy, buổi sáng trước khi gặp Phụng, chúng tôi đã tìm đến nhà anh, một mái tranh nghèo khuất sau hậu vườn, giáp với cánh đồng lúa gọi là đồng Cây Trâm, nằm sâu trong làng Thượng, dưới chân những ngọn đồi. Dì Tư kể rằng, 25 năm trước, khi dì mới đến đây dựng chòi lập nghiệp, khu đất nầy chỉ là đám cỏ tranh, vậy mà bây giờ nó giống như một khu vườn cổ kính, những ngọn dừa cao ngút trời xanh, những gốc xòai đã hóa thành cổ thụ, và, những đứa con nheo nhóc đã nên người. Câu chuyện của đời người mà cứ như một giấc mơ. Dì nói: “Ông bà mình có câu tha phương cầu thực, còn tôi với nhà tôi thì tha phương để cầu chữ cho con”.

“Tha phương cầu chữ”, câu nói nghe lạ tai những gẫm ra thì đúng vậy. “Nếu tha phương cầu thực thì tôi đã ở Gia Kiệm hoặc Dầu Giây để được bà con giúp đỡ, họ sẽ cho đất và giúp vốn kinh doanh, bây giờ có thể giàu, nhưng chuyện học hành của mấy đứa nhỏ không biết ra sao, vì hồi ấy ở ngòai đó cách trường học hơn mười cây số, mà cái lý do chúng tôi dắt díu nhau từ miền Trung vào đây là để tìm chỗ cho con cái học hành chớ đâu chỉ tìm kế sinh nhai”

Khác với bà mẹ của Mạnh Tử ngày xưa, khi cất nhà ở gần nghĩa địa, thấy con mình suốt ngày học theo cung cách của đám tang, bà dời nhà đến gần chợ, lại thấy con mình suốt ngày học cân đong đo đếm, bà bèn dời nhà đến gần trường để Mạnh Tử học lể giáo nho phong. Dì Tư Cúc, ngay từ đầu đã nghĩ đến việc đi tìm trường cho con học chữ bởi ở quê dì – Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam – cách xa trường gần mười cây số. Khi đứa con trai đầu lòng học xong lớp một, dì bắt phải ngồi thêm một năm nữa cho đủ sức để lội đường xa, phải đi đò qua con sông Vàng mà mùa lũ thì dòng sông chảy như thác đổ. Con đi học, cha mẹ ngồi nhà thắt thỏm đợi chờ. Lên lớp sáu thì phải qua đồi qua suối đến mười cây số, lên lớp chín phải qua bốn con sông, mười lăm cây số. Nhìn sáu đứa con, dì Tư cứ nghĩ, rồi đây chúng sẽ bỏ học như những đứa trẻ trong làng. Đất Quảng vốn nghèo khó bao đời, nếu không có con chữ mở đường thì không thể tìm lối thóat cho tương lai. Nhưng đi về đâu ? Lấy gì để sống ? Đó là những câu hỏi mà vợ chồng dì cứ hỏi nhau mà không tìm ra lời giải. Sáu đứa con, đứa lớn 13 tuổi, đứa nhỏ còn ẳm trên tay, như vậy là tám miệng ăn. Nhìn đi nhìn lại trong nhà không có gì đáng giá ngòai chiếc máy may. Mấy sào ruộng thì đã vào hợp tác xã, ở lại lao động thì được chia phần, ra đi thì coi như bỏ, hai sào đất vườn thì chỉ có mì với khoai lang và vài lọai cây ăn trái, có bán cũng chẳng ai mua, ngôi nhà thì xiêu vẹo, tháo dỡ ra chỉ bán được vài chục tấm tol.

Sau khi bán chiếc máy may được mấy chỉ vàng, dì Tư làm một chuyến đi tiền trạm vào Đồng Nai tìm kiếm người thân ở Gia Kiệm, Dầu Giây. Đến đây, dì bán vàng mua lúa gởi lại cho bà con rồi về quê đưa cả gia đình vào Dầu Giây ở tạm. Ông Minh, chồng dì sau khi đi khảo sát, được người em họ giới thiệu mua ba sào đất hoang với giá rẻ ở Cây Trâm, làng Thượng để lập vườn. Ông nghĩ, ở đây cách trường học bốn năm cây số, muốn gần hơn nữa cũng không được vì càng gần thị trấn thì giá đất càng cao. Thôi thì đành vậy, miễn sao con cái được đi học thì dù cho ông bà có bán mặt cho đất, bán lưng cho trời cũng đành lòng. Vợ chồng dì Tư tuy không nhiều chữ nghĩa để tìm ra những triết lý sâu xa trong cuộc sống, nhưng theo cách nghĩ đơn giản của dì là, khi sống có hy vọng, có niềm tin thì có được cái sự an tâm, sự an tâm ấy nó giúp cho vợ chồng dì xem thường mọi khó nhọc trong cuộc mưu sinh đi tìm chén cơm manh áo.

Với ba sào đất hoang mọc đầy cỏ tranh ấy thì chính cỏ tranh đã được làm nên một mái nhà – mái nhà tranh. Ông Minh lên rừng đống cây làm cột làm kèo, đốn tre nứa làm phên vách. Chẳng mấy hôm, họ dựng lên một ngôi nhà tươm tất, đàng hòang hơn cả ngôi nhà cũ ở ngòai Trung. Lúa gạo đã dự trữ từ tiền bán chiếc máy may đủ để ăn qua mùa giáp hạt, con cá cọng rau thì tìm kiếm trên đồng. Nhưng niềm vui lớn nhất của ông bà là bốn đứa con lớn đã được đến trường. Trần Quang Phúc học lớp sáu ở ngòai thị trấn, Trần Thị Kim Loan, Trần Quang Phụng, Trần Quang Phước học tiểu học ở gần nhà, trên đồi Đất Đen.

Công việc đầu tiên của ông Minh là đi tìm đất thuê làm ruộng. Hết mùa ruộng, ông lên đồi tìm mượn những sào đất bỏ hoang để tỉa đậu, trồng khoai. Phần dì Tư, để có đồng ra đồng vô cho cuộc sống hàng ngày, dì quảy gánh lên các ngọn đồi tìm mua từng quày chuối xanh về vú chín rồi mang ra chợ bán. Dì nhẩm tính, cứ mỗi nải chuối mua tận gốc, bán tận ngọn thì lời được năm trăm đồng, một phiên chợ từ năm giờ sáng đến mười giờ trưa, có khi kiếm được vài chục ngàn đồng. Nghĩ đơn giản thế, nhưng để có được vài chục ngàn đồng, bốn giờ sáng dì phải thức dậy, gánh một gánh chuối oằn vai trên đọan đường gần năm cây số, mười giờ trưa lội bộ trở về, cơm nước xong lại quảy gánh lên đồi, gần chục cây số nữa, băng qua từng ngọn đồi, lên dốc rồi xuống dốc, lùng mua từng quày chuối, chiều lại gánh về. Mùa nắng thì như lửa đốt, mùa mưa thì bấm ngón chân bám từng bước đường trơn, mỗi khi lên dốc thì gánh chuối ghị đôi vai về phía sau, xuống dốc thì gánh chuối ghị đôi vai về phía trước, mỗi lần chợt chân, quăng gánh, từng quày chuối lăn lóc xuống chân đồi, phải mò mẩm từng bước đi nhặt lại. Hôm nào cũng như hôm nào, khi gồng gánh qua khỏi ngọn đồi cuối cùng thì trời chập chọang tối, băng qua cánh đồng, về đến nhà thì hàng xóm đã lên đèn. Nhưng mỗi khi về đến nhà, thấy đàn con chụm đầu bên ngọn đèn dầu, đứa say sưa làm bài tập, đứa đọc ê a, dì cảm thấy trào dâng niềm hạnh phúc, quên đi bao nỗi nhọc nhằn, mệt mõi. Ăn vội chén cơm, dì đổ gánh chuối ra, cắt tỉa, phân lọai, chắt chiu từng nải một như chắt chiu niềm mơ ước của mình. Cứ mãi mê làm như thế, có khi đến quá nửa đêm, chợp mắt một chút, khi nghe gà gáy sáng lại giật mình thức dậy, lui cui gánh hàng ra chợ.

Trong mắt của những người hàng xóm, nghị lực của vợ chồng dì Tư được xem như một tấm gương. Nhưng với vợ chồng dì, cuộc sống ở đây vẫn tốt hơn ở ngòai quê cũ, con cái được đi học và được làm ra tiền để nuôi con ăn học như thế nầy, quả là một hạnh phúc lớn lao. Sáu năm sau – tức năm 1989 – kể từ ngày về đây dựng chòi lập nghiệp, vợ chồng dì Tư đã mua được sáu sào ruộng, ba sào rẫy, trong sân vườn lúc nào cũng đầy ắp đàn gà, đàn vịt, đàn heo, những cây dừa, cây xòai đã bắt đầu ra trái cũng là lúc anh Trần Quang Phúc trúng tuyển vào đại học kinh tế. Hôm ấy ông Minh đang hì hục trên đồng thì dì Tư chạy ra báo tin. Mừng quá, ông chạy tắt đường đồng về nhà, cầm tờ giấy báo trúng tuyển của con mà hai tay run run, hai giọt nước mắt chảy dài . . . Thế là niềm hy vọng, khát khao của ông bà đã được con cái đáp lời, thế là đã không uổng công cho thân cò lặn lội sớm hôm.

Thế nhưng khi Phúc vào đại học thì vợ chồng dì Tư phải đối diện với một bài tóan mới: chi phí cho một sinh viên học đại học một năm, dù có tiết kiệm tối đa cũng phải mất một trăm giạ lúa, nghĩa là với sáu sào ruộng làm hai vụ, trừ đi chi phí sản xuất, còn lại cũng chỉ đủ cho Phúc học một năm. Trong khi đó, nếu tính từ bây giờ thì bình quân hai năm nhà dì sẽ có một đứa con vào đại học. Để giúp cha mẹ giải bài tóan ấy, cô con gái thứ hai Trần Thị Kim Loan tình nguyện nghỉ học để giảm bớt gánh nặng cho gia đình và phụ với cha mẹ nuôi em. Không còn cách nào khác, vợ chồng dì Tư phải ngậm đắng nuốt cay mà chấp nhận đề nghị của con mình. Loan vừa đi dạy học kiếm tiền, vừa lo việc nhà, vừa chăm sóc một đàn em.

Hai năm sau, vào lúc nửa đêm, Trần Quang Phụng từ thị trấn lội bộ về, anh gọi cả nhà thức dậy và soi đèn pin cho mọi người xem giấy báo trúng tuyển vào khoa điện tử trường đại học Bách khoa. Rồi một năm sau nữa, vợ chồng dì Tư đang suốt lúa mướn ngòai đồng thì một người hàng xóm đến báo tin, Trần Quang Phước trúng tuyển vào đại học y khoa với số điểm cao nhất khu vực I. Hai ông bà bỏ ngang công việc làm mướn với một trạng thái mất hồn. Mừng vui ! Ừ thì không vui sao được ! Nhưng đang nuôi hai đứa sinh viên, nợ nần chồng chất, giờ biết lấy gì để nuôi đứa thứ ba ?

Dì Tư kể rằng, những năm ấy heo, gà, vịt lớn lên không kịp chi phí cho con, dì phải đi vay từ trong làng ra chợ, vay bất kỳ ai có thể vay được với lãi suất ba phần trăm một tháng. Từng gánh chuối chất nặng thêm cho mỗi buổi chợ dài thêm nhưng vẫn không đủ tiền đóng lãi. Đến khi Trần Quang Vũ tốt nghiệp phổ thông, vợ chồng dì Tư khuyên Vũ nên hõan lại một năm hãy thi vào đại học, chờ cho Phụng ra trường để bớt thêm một mối lo. Vũ nói hõan thì hõan, nhưng thi thì thi chơi vậy thôi. Ai ngờ, Vũ lại đậu vào đại học kiến trúc. Nợ nần chồng lên gia đình dì Tư như lổ mội xì vô ruộng, ém chổ nầy thì xì ra chỗ khác, rồi đến lúc không còn xoay xở nỗi, đành phải bán tốc ba sào rẫy, sáu sào ruộng, bán cả lúa non đang trổ đòng đòng.

Ông Minh nói: “Làm nông dân mà không có ruộng thì đã xót xa, ray rứt. Khi mua được ruộng, cảm thấy mình như được đổi đời, thấy mình mới đúng nghĩa nông dân. Nhưng khi bán ruộng để trả nợ, nhất là bán cả lúa non, lòng tôi đau như cắt. Thế rồi nằm đêm nghĩ đi nghĩ lại, thấy mình bán ruộng để đầu tư cho con cái học hành, nghĩ vậy thì nghe nó bớt đau”. Dì Tư nói: “Học phí bình quân cho mỗi sinh viên khỏang 50 triệu đồng, cứ xoay đầu nầy, xở đầu kia, đến năm 2001, khi Trần Quang Việt, đứa con trai cuối cùng trúng tuyển vào đại học Bách khoa, nhà tôi còn nợ hơn một trăm triệu đồng. Cũng may, tụi nó khi học đến năm thứ hai là bắt đầu đi dạy kèm để tự nuôi thân, rồi mỗi đứa lần lượt ra trường, đứa lớn nuôi đứa nhỏ, rồi dành dụm tiền lương mang về trả nợ”.

Tôi hỏi thăm từng người con trong gia đình, dì Tư kể: “Thằng Phúc có cái may, hồi nhỏ tôi đã làm giấy cho chú ruột của nó, sau nầy chú ấy xuất cảnh, dẫn nó đi theo, qua Mỹ học tiếp, giờ mới ra trường, hôm rồi mang tiền về xây nhà, nhưng mấy anh em nó bàn tính với nhau, trả cho hết nợ, còn chuyện xây nhà để năm sau mấy đứa em nó lo. Thằng Phụng bây giờ mới thành lập công ty riêng; thằng Phước trở thành bác sĩ nhưng lại thích đi vùng sâu vùng xa, hết Kiên Giang rồi tới Bình Dương, hết Bình Dương lại sang Bà Rịa; thằng Vũ giờ là kiến Trúc sư, làm việc ở Sài Gòn; thằng Việt là kỹ sư cơ khí, làm ở khu công nghiệp Biên Hòa. Con Loan lấy chồng về Biên Hòa, mở tiệm may, cuộc sống khá giả nhưng mỗi lần nghĩ tới nó tôi và ba nó vẫn thấy xót xa, vẫn nghĩ như mình chưa làm tròn trách nhiệm với con trong việc học hành”.

Cách đây sáu năm, tức là lúc Trần Quang Việt mới vào đại học, nợ nần đang chồng chất, nhưng một lần về quê, thấy người em trai đang nghèo khổ, tật nguyền, có đứa con trai đang học lớp mười mới vừa bỏ học. Ông Minh đắn đo suy nghĩ, mình thì sắp kiệt sức rồi, đem nó vào thì chồng lên vai thêm gánh nặng, mà để cho nó bỏ học thì không nỡ lòng nào, cháu họ cũng như con. Thôi thì cố lên chút nữa để cứu lấy một cuộc đời. Và đứa cháu ấy tên là Trần Sĩ Phú, bây giờ là sinh viên năm cuối ngành điện tử đại học Bách khoa.

“Con cái thành đạt, nợ nần cũng đã trả xong, dì còn mơ ước gì nữa không ?” Tôi biết mình hỏi một câu rất thừa, nhưng cũng không thể nào không hỏi thế. Dì Tư lắc đầu cười: “Không. Hôm tết tụi nó bàn nhau xây lại ngôi nhà, tôi nói ừ thì cứ xây, nhưng đơn giản thôi, cha mẹ già rồi, ở có bao nhiêu mà làm cho tốn kém. Có đứa thì nói cha mẹ già ở đây hẻo lánh quá, không tiện, muốn đưa về Sài Gòn, có đứa thì lại nói mảnh đất nầy quá nhiều kỷ niệm thiêng liêng, không muốn bán. Tôi với ông nhà tôi cũng nghĩ như thế, chính nơi đây vợ chồng tôi đã thực hiện những mơ ước của mình”.

Tôi mời dì Tư ra đứng trước sân để chụp một tấm hình. Dì nói: “Đúng rồi, tôi cũng muốn chụp với cái mái tranh nầy để làm kỷ niệm, vài tháng nữa nó đâu còn”.

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2008

ĐÓN ĐỌC TẠP CHÍ NGƯỜI ĐÔ THỊ PHÁT HÀNH NGÀY 24-10




Xem ra chuyện đưa "gái gú" lên trang bìa tạp chí đã lỗi thời, số báo nầy bán đắt như tôm tươi.

-->đọc tiếp...