Thứ Hai, 8 tháng 9, 2008

XIN LỖI CHỊ !






-Sao rồi cậu ?

Không biết đây là lần thứ mấy chị Hấn hỏi tôi như vậy. Câu hỏi cứ xoáy vào lòng tôi một nỗi đau bất lực. Đã hơn một năm qua, cách vài tuần lễ, sau giờ làm việc tôi từ cơ quan chạy xe về thì gặp chị ngồi trên ghế đá trước cửa nhà tôi, dáng rụt rè, chiếc nón lá úp lên đầu gối, ánh mắt như cầu khẩn đến mỏi mòn :
-Sao rồi cậu ?

Tôi lại ngồi cạnh chị, mùi phân heo bốc lên từ những ngón tay, những ngón chân thúi móng, từ bộ bà ba nhàu nát, từ cả trong gương mặt trái xoan đầy nhân hậu còn toát lên vẻ đẹp của một thời con gái – dù tuổi chị đã quá năm mươi.

-Em muốn vô nhà chị nhậu chơi với anh Hai – tôi nói.

-Đi bây giờ ?

-Ừ, ghé chợ mua lươn với trái giác vô nấu canh chua.

Chị tỏ ra mừng lắm, cái mừng của người nghèo được đón khách đến nhà.

Từ trung tâm thành phố Cà Mau đi theo quốc lộ 1A về hướng Năm Căn chừng bảy cây số là đến nhà chị. Thật ra gọi là nhà chị thì hoàn toàn không phải, đó là cái chuồng heo khoảng hai mươi mét vuông. Hai vợ cồng chị ở chung với mười sáu con heo, cũng không phải là gia tài của chị. Vợ anh trưởng phòng công chứng có đất vườn, bỏ tiền ra cất nhà và mua heo giống, chị Hấn nấu rượu lấy hèm nuôi heo.

Thấy tôi lấy xô múc nước dội chuồng, chị nói:

-Tại cậu không quen, chớ anh chị ở chung với chúng nó quen rồi, dội suốt ngày sao chịu nổi.

Tôi với anh Chủ – chồng chị – ngồi nhậu trên chiếc giừơng bên cạnh đàn heo, bốn bề ruồi nhặng vây quanh, chúng đậu lên cả thức ăn. Chị Hấn ngồi quạt ruồi, anh Chủ ngà ngà say nhìn chị nói :

-Chị Hai mầy ngày xưa đẹp lắm, hồi tao cưới bả mới mười bảy tuổi, tóc dài, đáy thắt, lưng ong. Nhiều thằng mê bả đâm ra thất tình, tụi nó nhậu say rồi đi ngang chửi tao . . .

Chị Hấn nói sang chuyện khác :

-Hồi đó chị giàu có nhất ở xóm Rau Dừa . . . vậy mà . . .

Chị cúi xuống gỡ móng tay, dường như chị muốn khóc.

*

Đã nhiều lần tôi đọc đi đọc lại chồng hồ sơ hàng chục trang về cuộc đời và ngôi nhà của chị, rồi lặn lội đi tìm các nhân chứng, hầu hết những người xác nhận cho chị là những cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, có người đã qua đời, có người đã nghỉ hưu, có người còn đương chức. Họ kể rằng, chị Đoàn Thị Hấn là con của một gia đình có truyền thống cách mạng, cha chị là liệt sĩ, mẹ chị là biệt động thành bị giặc bắt giam ở Rạch Giá. Vợ chồng chị Hấn là cơ sở hoạt động bí mật của Ban An ninh tỉnh Cà Mau từ năm 1972. Hồi ấy, chị là một người giàu có nổi tiếng ở Rau Dừa, cơ ngơi của chị gồm một vựa cá đồng, một lò đường và một nhà máy chà gạo.

Với công việc kinh doanh cá đồng trên tuyến đường Rau Dừa – Cà Mau thời ấy, chị làm mạch máu giao thông giữa Ban chỉ huy An ninh và các cơ sở cách mạng trong lòng thị xã : nắm tình hình hoạt động của đối phương để báo cáo về Ban an ninh; mua hàng hoá phục vụ cho chiến đấu; tạo cơ sở hợp pháp để mở rộng chiến thuật nở hoa trong lòng địch; đưa trinh sát vào bám trụ trong địa bàn thị xã . . .

Trong văn bản số 04 của Ban Giám đốc Công an tỉnh Cà Mau ký ngày 9 tháng 8 năm 1999 có đoạn viết : Năm 1974, do yêu cầu tăng cường phát triển cơ sở nội thị, lãnh đạo Ban An ninh tỉnh quyết định đưa chị Hấn vào bám trụ tại thị xã Cà Mau. Quyết định nầy được vợ chồng anh Chủ và chị Hấn chấp hành nhưng thực tế Ban An ninh không có tiền mua nhà để tạo cơ sở cho vợ chồng chị Hấn hoạt động hợp pháp. Vì sự nghiệp Cách mạng, vợ chồng chị Hấn đã bán toàn bộ đất đai, tài sản của mình tại ấp Ba Vinh, xã Hưng Mỹ để ra Cà Mau mua nhà, vừa có chỗ dựa để hoạt động, vừa có nơi buôn bán tạo điều kiện nuôi sống gia đình. Quyết định trên của vợ chồng anh Chủ đã được Ban lãnh đạo An ninh tỉnh khen ngợi và ghi nhận sự cống hiến ấy. Tài sản anh Chủ và chị Hấn bán bao gồm :đất đai, nhà ở, một phần hùn nhà máy xay lúa trị giá 1,2 triệu đồng; một phần hùn nhà máy đường trị giá 1,6 triệu đồng; một vựa cá lớn tại Rau Dừa trị giá trên 1 triệu đồng.

Tháng 1 năm 1974, vợ chồng anh Chủ và chị Hấn mua căn nhà số 84 đường Quang Trung, thị xã Cà Mau của ông Quách Hữu Danh với giá tám triệu đồng. Kể từ đó căn nhà nầy vừa là vựa cá của chị Hấn, vừa là nơi hoạt động bí mật của Ban An ninh tỉnh Cà Mau.

Trong văn bản số 25 ngày 27 tháng 4 năm 1995 của Ban Nội chính tỉnh ủy Minh Hải có đoạn viết : Quá trình hoạt động của chị Hấn, bọn An ninh quân đội theo dõi và hai lần bắt chị tra tấn nhiều cực hình, cả việc giam chuồng cọp mười ngày đêm nhưng chị vẫn giữ được cơ sở. Qua hai lần bị bắt giam, chị Hấn và tổ chức phải lót tay cho thiếu tá Trình phụ trách An ninh quân đội số tiền hai trăm ba chục ngàn đồng ( trị giá tương 9 chiếc honda ) – cũng chính bằng đồng tiền của chị Hấn – để được thả ra và lại tiếp tục hoạt động.

Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính chị Hấn là người dẫn đường đưa lực lượng Ban An ninh tỉnh vào thị xã Cà Mau đồng thời giúp ta truy quét số tàn quân địch còn lẩn trốn trong những ngày đầu giải phóng. Thế nhưng sau đó ta tiến hành “cải tạo công thương nghiệp” thì nhà của chị cũng bị xếp vào đối tượng bị kiểm kê, niêm phong và tịch thu toàn bộ tài sản hiện có trong nhà và khẩu súng K54 của chị được trang bị để hoạt động.

Theo bảng kê của Công an tỉnh Cà Mau thì ngoài căn nhà ra, tài sản của chị Hấn bị tịch thu gồm có : mười hai cây vàng 24k; bốn triệu đồng tiền mặt; mười sáu cây vải; hai tấn rưỡi mắm lóc; bảy mươi thùng cá đang sử dụng; ba trăm tấm tol dùng để làm thùng cá; một chiếc xe honda và toàn bộ đồ trang trí nội thất và gia dụng.

Ông Lê Văn Biểu, tức Sáu Đe, nguyên Phó Ty Công an tỉnh Cà Mau, người trực tiếp tổ chức và lãnh đạo chị Hấn trong thời kỳ hoạt động bí mật đã kể lại với tôi rằng, mấy ngày đầu giải phóng, vựa cá chị Hấn còn hơn một tấn cá lóc nhưng chị không bán mà để nuôi một Đại đội An ninh vũ trang ở trong nhà chị. Những ngày ấy, chị phải thuê người nấu cơm để chị cùng các anh An ninh đi truy quét tàn quân.

Khi sự cố cải tạo Công thương nghiệp xảy ra, chị Hấn đã đến Ty Công an cầu cứu, ông Sáu Đe đích thân đến Ban chỉ đạo X2 – tức Ban cải tạo tư sản – để can thiệp rằng gia đình chị Hấn không phải là tư sản mà là cơ sở của Ban An ninh do ông tổ chức. Ông Nguyễn Vă Để, Trưởng Ban chỉ đạo X2 trả lời rằng : Tình hình lúc nầy đang phức tạp, việc cải tạo tư sản là một chủ trương lớn nên cứ chấp hành, từng trường hợp cụ thể sẽ xem xét sau. Lúc nầy tại nhà chị Hấn, tổ công tác của X2 đang tiến hành kiểm kê tài sản. Không kềm chế được, anh Chủ buộc chị Hấn giao chìa khóa tủ để anh lấy khẩu súng ra ăn thua . . . Một lần nữa, chị Hấn lại chạy đến ông Sáu Đe cầu cứu, lần nầy ông gọi anh Chủ lên để động viên, ông nói về công lao đóng góp cho kháng chiến của vợ chồng anh, rằng cháu đã dám xem thường cả tài sản lẫn tính mạng để để ra đây hoạt động vậy là cháu đã chấp nhận hy sinh, rằng hãy tiếp tục hy sinh cái riêng để vì sự nghiệp lớn lao, rằng đừng bốc đồng vì quyền lợi cá nhân mà làm nhục gia đình, xoá sạch cả một đời làm Cách mạng, rằng . . .

Vậy là vợ chồng chị dẫn đứa con trai tám tuổi về quê với hai bàn tay trắng. Năm ấy chị mới tròn hai mươi tám tuổi !

Về quê ! Tay trắng đã đành ! Không còn đất đai nhà cửa đã đành ! Ăn nhờ ở đậu với em út cũng đành ! Nhưng cái mặc cảm lớn lao là biết giải thích thế nào với chòm xóm, với người thân ? Hai vợ chồng dắt díu nhau đi làm thuê, ở mướn. . .

Thời gian trôi qua, hai tỉnh Cà Mau – Bạc Liêu nhập lại, bộ máy chính quyền hình thành với nhiều ban bệ xa lạ với người dân. Chị chắt mót được ít tiền tàu xe làm sở phí đi xin lại căn nhà thì không ai biết chị là ai, người ta nói trong danh sách tư sản bị cải tạo không có ai tên Đoàn Thị Hấn. Căn cứ vào hồ sơ thì căn nhà 84 Quang Trung là của ông Quách Hữu Danh, một người của chính quyền cũ đang bị cải tạo.

Khi ông Quách Hữu Danh được trả tự do thì ông Ba Trường Sơn – một cán bộ lãnh đạo của Ban An ninh tỉnh Cà Mau cũ – gợi ý nhờ ông Danh lấy danh nghĩa là người chủ cũ để đứng ra xin lại căn nhà cho chị Hấn, vì hiện tại, chị Hấn không chứng minh được mình là chủ của căn nhà.

Hồ sơ của ông Quách Hữu Danh nhiều lần bị bác bỏ.

Thế là không còn cách nào khác, đến năm 1995, chị Hấn mới đứng ra làm đơn kêu cứu để xin lại ngôi nhà. Chị chứng minh quyền sở hữu của mình bằng cách nhờ những người lãnh đạo cũ, những người đồng đội cũ xác nhận cho mình. Trong đó, có những người từng là chiến sĩ trinh sát, là tình báo đã ở trong căn nhà của chị để vẽ sơ đồ thị xã Cà Mau chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công mùa Xuân năm 1975.

Đọc chồng hồ sơ của chị, tôi không khỏi bàng hoàng khi gặp bút tích của ông Nguyễn Văn Để, ông xác nhận rằng lúc làm chỉ huy X2, ông Sáu Đe đã nhiều lần đến gặp ông để giải thích về căn nhà chị Hấn, nhưng lúc ấy ông đã dùng quyền lực để bác bỏ một cách lạnh lùng. Ông Nguyễn Văn Để nay đã qua đời, những dòng chữ ông cứ ám ảnh tôi như những lời sám hối ! Tiếc rằng nó chẳng làm động lòng ai ? !

*

Sau Tết Nguyên đán vừa qua, cũng một buổi trưa đi làm về, tôi gặp chị Hấn đã ngồi chờ tôi trên ghế đá trước hàng ba. Nhưng tôi lấy làm lạ vì không nghe chị hỏi cái câu sao rồi cậu như bao nhiêu lần trước.

-Tôi đến từ giã cậu – chị ôn tồn nói.

-Chị đi đâu ?

-Tôi về quê.

-Về quê ? Còn đàn heo, nó chưa tới ngày xuất chuồng ?

-Tôi với bà chủ định giá rồi chia đôi, trừ cấn hết mọi thứ tôi còn nợ bà chủ năm triệu, nhưng để đó trả dần.

-Sao chị làm như vậy ?

-Anh Hai bị viêm mũi, đi khám, bác sĩ hỏi gần nhà có ao nước thúi không, tôi đâu dám nói mình ở chung với heo.

-Rồi về quê chị ở đâu ?

-Ở với hai vợ chồng thằng con. Bây giờ tôi tính thế nầy, hai triệu bạc cậu cho mượn hôm trước cộng với năm triệu Công an tỉnh Cà Mau cho, tôi mang về giúp thằng con sửa lại căn nhà một ít, còn một ít làm vốn buôn bán lặt vặt sống qua ngày, cậu thấy sao ?

Tôi chưa biết trả lời sao thì chị nói tiếp :

-Chớ không lẽ ở đây hửi cứt heo để hy vọng nhà nước trả lại tài sản cho mình. Thôi thì đã sống trong tuyệt vọng hơn hai mươi lăm năm qua rồi, phần đời còn lại cũng chẳng bao lâu. Tại cái số của mình nó vậy !

Chị nói bình thản mà tôi nghe gai óc nổi cùng mình.

Không hiểu sao lúc ấy tôi cứ ngồi im lặng. Thậm chí định xin lỗi chị vì tôi đã không giúp được gì cho chị, vậy mà cũng không nói được. Cứ thế, tôi cứ ngồi gục xuống cho đến khi chị đứng dậy vỗ vai tôi :

-Thôi chị về, anh Hai đang đợi ở bến xe. Hôm nào rảnh chị ra thăm cậu. Hay là cậu có đi công tác xuống Rau Dừa, ghé chị chơi ! Chị đi nghen !

Vậy rồi chị đi.

Từ ấy đến nay, thỉnh thoảng trong những buổi trưa đi làm về, tôi thèm được nghe cái câu sao rồi cậu kèm theo ánh mắt cầu khẩn đến mỏi mòn; thèm nghe cái mùi phân heo bốc lên từ những ngón tay, ngón chân thúi móng, từ bộ bà ba nhàu nát, từ cả trong gương mặt trái xoan đầy nhân hậu. Nhưng tất cả đã không còn vì chị không thèm hỏi tôi sao rồi cậu nữa.

Tôi viết những dòng nầy để xin lỗi chị.

Xin đừng ai hiểu rằng tôi muốn tranh cãi với ai ./.

Cà Mau, đêm 23 tháng 3 năm 2001

Vài tháng sau, thỉnh thoảng chị Hấn có gọi điện cho tôi, báo tin chị nuôi tôm thất bại, vướng nợ thêm mười mấy triệu đồng. Khoảng một năm sau, tình cờ xem thời sự trên đài truyền hình Cà Mau, tôi thấy hai vợ chồng chị xuất hiện cùng với các quan chức huyện Cái Nước trước căn nhà nhỏ có treo tấm biểu ngữ thật to: LỄ BÀN GIAO NHÀ TÌNH NGHĨA. Trông anh Chủ già nua, hốc hác, đầu cúi xuống, giọng nói ngập ngừng: "Tôi xin cảm ơn Đảng và Nhà nước đã quan tâm, giúp tôi có được ngôi nhà để ổn định cuộc sống".

Nghĩ mà cay đắng, ngôi nhà cũ của anh ở ngay chợ cá, trị giá hàng tỷ đồng, người chủ sở hữu bấy giờ là một quan chức khá to của tỉnh. Còn anh, nhận một căn nhà tình nghĩa hai mươi triệu đồng mà phải lên tivi để cảm ơn . . . !




-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2008

CỎ CHÁT HÓA NGỌT NGÀO





Buổi sáng ra máy ATM kiểm tra tài khoản, ngoài số tiền đã rút hôm qua để chuyển cho Duy Khang, số dư hôm nay là 10.800.000 đồng. Tôi nhẩm tính theo số liệu mà người gởi cho biết: Của chị T, một blogger từ Đức mới nhờ người nhà chuyển vào bảy triệu đồng, của P hai triệu đồng, của K một triệu đồng, của C ba trăm ngàn đồng, của S hai trăm ngàn đồng. Như vậy ba trăm ngàn đồng còn lại là của ai ? Cũng không có gì ngạc nhiên khi buổi trưa, nhà thơ Đỗ Trung Quân mang đến hai triệu sáu trăm năm chục ngàn đồng, hỏi của ai, anh nói của người quen mang đến tòa soạn nhưng xin được giấu tên. Và, sẽ không có gì ngạc nhiên khi gặp một message dưới đây :

“Anh Danh à, em cũng muốn gửi chút ít tiền lương giáo viên quèn cho chị Thiện đó, mà em hông muốn bị hài danh và hài tánh ra tùm lum, chuyển khoản thì cũng lưu lại hồ sơ lung tung.Nếu phóng viên Duy Khang đó có ở VPTT Cần Thơ thì em ra thẳng đó gửi cho hắn luôn sẽ tiện hơn. Sẽ còn đợt sau nữa hả anh? Muốn làm người tử tế bi giờ cũng khó lắm anh à.”

Lại một tin nhắn từ số máy 0937374455: “Anh nhắn cho em số tài khoản để em chuyển chút ít giúp chị Thiện/một người đọc blog của anh”. Tôi gọi lại hỏi tên. “Dạ em tên Lực, nhưng anh đừng bận tâm làm gì, em chỉ gởi chút ít thôi mà”.

Lực ơi ! Điều mà tôi bận tâm đâu phải là số tiền em giúp chị Thiện nhiều hay ít. Cũng như hôm kia, chị Hương ở Hóc Môn mang ra vài chục quyển tập với ba trăm năm chục ngàn đồng, chị nói trong nầy có một trăm năm chục ngàn của ba người hàng xóm, mỗi người gởi năm chục ngàn đồng với mấy lời chia sẻ. Ôi ! Cái phong bì mỏng manh mà sao nặng trĩu ân tình ! Nó nặng đến nỗi không thể dùng công cụ đo lường nào tính được. Tôi trộm nghĩ, cái Đồng Cỏ Chát của tôi suốt bảy năm qua nằm im lìm trong ray rứt, giờ đây bỗng hóa ngọt ngào.

Cuộc sống có những lúc làm tôi tuyệt vọng, có những chuyện làm tôi bị mất lòng tin. Nhưng tôi tin vào luật nhân quả, tôi tin vào lòng nhân ái còn tiềm ẩn đâu đó trong cõi đời nầy. Cách nay không lâu, khi viết bút ký Cổ Tích Trên Đỉnh Mồ Côi, tôi đã gởi gấm vào cái niềm tin đó, rằng: “Những câu chuyện cổ tích bao giờ cũng đi đến một kết thúc có hậu. Nhưng dân gian thường hay lý giải sự bế tắt bằng những phép màu. Và tôi hy vọng trong câu chuyện nầy, sẽ có một phép màu nào đó đến với anh Bông. Phép màu ấy chính là cái tâm, là lòng nh ân ái đang ẩn chứa đâu đây, trên cõi đời nầy”. Và quả nhiên là như vậy. Mấy tháng qua, bạn đọc trong nước, ngoài nước lần lượt tìm đến Đỉnh Mồ Côi để tiếp sức cho anh Bông chăm lo cho những thiên thần bé nhỏ.

Giờ đây, câu chuyện Đồng Cỏ Chát lại khơi dậy lòng nhân ái. Chúng ta không hy vọng chị Thiện sẽ trả được món nợ bảy mươi triệu đồng. Nhưng với chị, vài chục triệu đồng bây giờ quả là không nhỏ. Cháu Hận chẳng những thoát khỏi nguy cơ bỏ học mà có thể được học đến nơi đến chốn một cách đàng hoàng từ sự đỡ đầu của một blogger bên Đức. Ba Đứa con lớn của chị Thiện đang vất vưởng ở Sài Gòn có thể sẽ ổn định hơn với công ăn việc làm từ sự lo toan của chị Pink_Heart.

Nhưng vượt lên sự ấm áp của gia đình chị Thiện là gì ? Tôi nhớ trong phim Chuyện Tử Tế của đạo diễn Trần Văn Thủy có câu: “Tử tế luôn có trong mỗi cuộc đời, mỗi gia đình, mỗi dòng họ. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ Tổ tiên hay trên Lễ đài quốc gia. Bởi thiếu nó thì một dân tộc, một cộng đồng dù có cố gắng đến tột bực cũng chỉ là những điều vớ vẩn”.

Xin chân thành cảm ơn các bạn ! Chính các bạn đã giúp cho tôi một niềm tin về sự tử tế và sự tiềm ẩn của lòng nhân ái. Và, chính niềm tin ấy đã giúp tôi tự tin với công việc của mình, với con đường mình đã chọn.

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2008

Đã có thông tin về chị Thiện




Nguyễn Duy Khang, phóng viên báo Tuổi Trẻ thường trú tại Miền tây, chủ blog Cánh Đồng năn, một người đồng hương với tôi nhưng chưa gặp nhau lần nào,chỉ biết nhau qua thế giới ảo. Trong những ngày tôi ở Campuchia thì Khang đã hai lần lặn lội về U Minh để tìm chị Thiện, do sự nhầm lẫn giữa ấp 5 với kinh 5 nên lần thứ nhất Khang không tìm được, phải đi thêm lần thứ hai. Dưới đây là bài "tốc ký" của Khang về chuyến đi nầy, hy vọng sẽ đáp ứng được sự mong mõi của NHỮNG NGƯỜI TỬ TẾ.

Có hai số tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau để các bạn lựa chọn cách gởi thuận tiện nhất: Đỗ Trung Quân:0101080674, Ngân hàng Đông Á; Võ Đắc Danh: 0251001209668,Vietcombank.Khi gởi xong,yêu cầu các bạn nhắn tin vào quick comment hoặc message. Nếu không có gì trở ngại, Chủ nhật nầy nhà báo Nguyễn Duy Khang sẽ mang trước một số tiền đến trao cho chị Thiện để giúp bé Hận có đủ điều kiện đến trường, các giải pháp khác chúng ta sẽ bàn tiếp khi chúng tôi tổ chức chuyến đi vào ngày 20-9.
Xin chân thành cảm ơn các bạn !






Về “Đồng Cỏ Chát”

Tuần rồi, đọc bút ký “Đồng Cỏ Chát” của nhà báo Võ Đắc Danh, nhiều người muốn biết hoàn cảnh chị Thiện - nhân vật chính trong bút ký - hiện giờ ra sao để mọi người có thể chung tay góp sức, giúp chị và các con vượt qua đói nghèo, nợ nần chồng chất.

Thân phận con người trong “Đồng Cỏ Chát” đã khơi lại cho tôi về những kiếp người quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” ở “Cánh Đồng Năn” nằm giữa đồng Chó Ngáp quê tôi. Câu chuyện về người đàn bà có cái tên giống như tấm lòng của chị - Thiện - đã thôi thúc tôi đi tìm chị vì tác giả những trang viết của 7 năm về trước bận quá nhiều việc ở một tờ báo.Vậy là tôi về U Minh hạ vào ngày chủ nhật với quyết tâm phải kiếm cho bằng được chị Thiện. Hành trang cho chuyến đi chỉ có vài thông tin trong bút ký của anh Võ Đắc Danh được tôi treo đầu dòng phía sau tờ giấy lịch: Chị Thiện, Kênh Năm – Khánh Hòa, vợ Tư Điều, con Hồng vợ bé Tư Điều và bé Diễm bị bệnh bướu tim.

Sau nhiều ngày tìm kiếm, cuối cùng tôi cũng tìm được nhà chị Thiện ở trong kênh Tuổi Trẻ thuộc ấp 5, xã Khánh Hòa. Ở đây, mọi người đều biết chị Thiện vì trong tuyến kênh này chỉ có duy nhất một ông chồng “đi theo vợ bé bỏ bè con thơ”, đó là Tư Điều - chồng chị Thiện. Nhìn dọc theo hai bờ kênh, cánh “Đồng Cỏ Chát” ngày xưa không còn nữa mà thay vào đó là một vùng nước mênh mông bởi khu vực này ai cũng biến đồng ruộng thành nơi nuôi tôm quảng canh cải tiến. Chị Thiện cũng vậy, sau khi chuộc lại 1ha đất từ tay Năm Dữ, chị cũng biến đồng ruộng mọc đầy cỏ chát thành vuông tôm sú. Tuy nhiên, vùng này mười người nuôi tôm thì hết chín người mắc nợ, không ai giữ được “sổ đỏ” trong nhà vì đã thế chấp hết cho ngân hàng.

Ghé lại căn chòi canh tôm của chị Thiện (Bảy Thiện – Lâm Thị Thiện) nằm sát mé kênh Tuổi Trẻ. Căn chòi này ngày xưa là căn chòi chị với Tư Điều sống bên nhau. Cũng chính căn chòi này mà 6 đứa trẻ lần lượt ra đời. Trong đó có một đứa đã mất sau cái lần con bươm bướm bà bay vào bếp ở Năm Căn… và một đứa chết chìm dưới con kinh nầy vì “nhổ củ sả ăn cho đỡ thèm quà bánh”. Phía sau căn chòi canh tôm giờ đây có một con heo chừng 50kg nuôi trong cái chuồng nhỏ nhưng hôm tôi đến chị Thiện không có nhà. Hàng xóm bảo rằng chị đã đi ra xã họp với hội phụ nữ từ sáng, muốn kiếm chị thì ra căn nhà nhỏ nằm gần UBND xã Khánh Hòa vì từ ngày thằng con út (Phạm Trường Hận) học đến lớp 6 thì chị Thiện đã vay của Ngân hàng Chính sách xã hội điểm xã Khánh Hòa thêm được 6 triệu đồng để cất một căn nhà nhỏ trên phần đất mẹ chị cho nằm cách Trường THCS xã Khánh Hòa khoảng 1km để Hận và bé Diễm ở.

Theo lời hướng dẫn của mọi người, cuối cùng tôi cũng đến được căn nhà rộng chừng 20m2 của chị Thiện nằm đối diện với ngã ba sông Khánh Hòa. Thấy có khách, thằng Hận (năm nay đã 14 tuổi, học lớp 8 trường THCS Khánh Hòa) chạy qua UBND xã gọi chị Thiện về. Gặp tôi, chị Thiện cho biết đi họp CTV dân số vì 2 năm qua chị làm nhiệm vụ “cấm đẻ” với “lương” 100.000 đồng/tháng. Chị nói: “Đông con như tui khổ lắm. Hướng dẫn những đôi vợ chồng trẻ phương pháp kế hoạch hóa gia đình để sinh ít con”.

Tôi hỏi chị sau ngày Tư Điều bán một nửa số đất của gia đình để ôm 1,3 lượng vàng bỏ xứ ra đi cùng với vợ bé đến nay chị sống ra sao. Chị bảo rằng khi được Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử cho chị chuộc đất và đứng trước số nợ quá lớn (1,3 lượng vàng vay để chuộc đất đẻ lãi đến 1,3 chỉ vàng/tháng), hàng ngày chị chèo xuồng đi khắp các dòng kênh trong xã Khánh Hòa để bán càrem bánh mì kiếm từng đồng bạc lẻ mua gạo nuôi các con. Đến mùa lúa cả nhà ùa ra ruộng nhưng đất vùng này nhiễm phèn quá nặng, cỏ chát lại mọc đầy nên 2ha đất trồng lúa chỉ thi hoạch được hơn 200 giạ lúa/năm. Sau khi trừ tiền mạ, tiền phân… trong nhà chỉ còn lại 50-60 giạ lúa nên không có điều kiện trả nợ.

Năm 2002, sau khi làm xong thủ tục “Tư Điều mất tích”, chị được đứng tên trên “sổ đỏ” và được Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh huyện U Minh cho vay 40 triệu đồng thực hiện mô hình tôm – lúa. Vay được tiền chị mua vàng trả nợ. Khi đó, “lãi mẹ đẻ lãi con” lên đến 3,6 lượng vàng nên trả nợ xong chị chỉ còn trên 10 triệu đồng làm vốn nuôi tôm trên diện tích 1,7ha và chừa lại 3 công đất ở khu vực ít cỏ chát để cấy lúa mùa. Ba năm đầu do đất mới cải tạo, phèn cứ “xì” lên hoài nên tôm chết sạch, chị đứt hết vốn. Năm ngoái chị mượn tiền bên ngoại thằng Hận thả xuống ao tôm bị thất mùa này 5.000 con cua biển giống nhưng cũng chẳng thu hoạch được con nào mà chỉ bắt được vài ký… cá phi đồng. Chị thở dài: “Tôm, cua đều chết nên không có tiền đóng lãi ngân hàng. Mỗi khi thấy cán bộ tín dụng là cả nhà dắt nhau chạy trốn. Bây giờ ngoài vốn gốc 40 triệu đồng, tiền lãi không đóng 6 năm qua chắc cũng gần 30 triệu đồng nên không biết phải làm gì mới có đủ tiền trả Nhà nước”. Với 3 công ruộng còn lại, mỗi năm chỉ làm lúa được 1 vụ cho năng suất 15 giạ/công, trừ chi phí còn được vài giạ lúa chà gạo ăn được non 2 tháng.

Hết trốn cán bộ tín dụng vì sợ đòi nợ, chị lại trốn những người trong nhà Năm Dữ vì sau khi tòa cho chị chuộc đất, ngày nào vợ chồng con cái Năm Dữ cũng chửi nặng chửi nhẹ chị. Có lần đang cấy lúa trên 3 công ruộng, chị bị vợ Năm Dữ dùng cây đánh sệ vai nhưng chị cũng cam chịu, không nói lại lời nào. Chị nói: “Má tui thấy vợ chồng Năm Dữ hung hăng quá nên mới cho tui mượn miếng đất này (gần Trường THCS Khánh Hòa) cất tạm căn nhà nhỏ để ở. Má tui nói sợ ở trong vuông có ngày vợ chồng Năm Dữ cho người đâm chết hết mấy mẹ con”.

Đảo quanh căn nhà nhỏ của chị Thiện được cất từ năm thằng Hận lên lớp 6 bằng vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã hội, tôi thấy bên trong không có gì đáng giá hơn chiếc lu ximăng chứa nước mưa đặt phía sau bếp. Phía trước có 2 chiếc bàn nhựa, 8 chiếc ghế, vài chai nước ngọt, 5 chai nước tương Tam Thái Tử, vài gói đường cát, mớ bột ngọt, 2 bịt nước màu, hơn chục củ tỏi và vài gói thuốc lá để bé Diễm bán cho bà con xung quanh kiếm lời 7.000 – 10.000 đồng/ngày. Hỏi đến bé Diễm, chị Thiện cho biết hiện nay chỉ có thằng Hận ở nhà này, bé Diễm đã đi TP HCM làm thuê kiếm tiền. Chị nói: “Mấy anh chị em tụi nó mới chỉ có con Lành có gia đình. Hiện thằng Nhờ (29 tuổi), con Lành (28 tuổi), thằng Nhờ Em (26 tuổi) và chồng con Lành đều làm công nhân cho một công ty giày da ở TP HCM với mức lương khoảng 900.000 đồng/người/tháng. Với mức lương này tụi nó chỉ đủ nuôi miệng, không có dư để gửi về nhà. Con Diễm trước đây bị bướu tim nhưng sau khi tui gửi vô chùa làm công hỏa và đắp đủ thứ thuốc Nam thì bướu “lặn” mất mà không biết “trúng” thuốc nào. Trước đây Diễm nó ở với Thằng Hận nhưng thấy bán lặt vặt như thế này không có tiền bao nhiêu nên vài ngày trước đi lên TP HCM xin làm công nhân cho công ty giày da nơi mấy anh em nó làm nhưng vừa lên tới nơi đã bị sốt, ói ra máu nên phải đưa vào bệnh viện cấp cứu”.

Ngày khai giảng năm học mới đã đến nhưng chị chưa có tiền mua sách, mua quần áo cho thằng Hận. Thương mẹ, thằng Hận nói: “Có vài cuốn tập với hai cây viết là mừng rồi, con mặc quần áo cũ đến trường cũng được. Năm sau hết lớp 9 con sẽ nghĩ học để theo mấy anh chị lên TP HCM làm mướn cho mẹ bớt lo”.

Nghe con nói mà chị không cầm được nước mắt. Chị muốn thằng Hận không phải bỏ học giữa chừng như anh chị nó. Mong mõi lớn nhất của chị là muốn thằng Hận học hết lớp 12 rồi thi vào Trường Cao đẳng sư phạm Cà Mau để sau này làm thầy giáo nhưng vì quá nghèo, nợ nần bủa vây nên lực bất tòng tâm./.

Nguyễn Duy Khang

(Blog Cánh Đồng Năn)


-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2008

Mới đó mà đã bảy năm !




Cà Mau, năm 2001, một buổi sáng ra ngồi quán cà phê, tình cơ gặp anh Kiếm, Thẩm phán tòa án tỉnh, hỏi có gì hay không, anh nói tuần rồi xử vụ án dân sự, liên quan đến câu chuyện ngộ lắm: Hai vợ chồng nghèo đi bán ghe hàng trên sông nước, con chết, chồng lấy ghe chở vợ bé về quê bán đất. Người vợ đâm đơn đòi chuộc lại. Lẽ ra Tòa xử cho chị ấy lấy lại đất vì hợp đồng bán đất của anh chồng phạm luật, nhưng chị ấy kiên quyết đòi chuộc lại, để giữ tình nghĩa xóm làng.

Cao hứng, tôi rủ vài người bạn chạy xe cuống U Minh, mượn cano của công an huyện chạy về Kinh Năm, xã Khánh Hòa tìm chị Thiện. Chao ôi, một căn chòi xiêu vẹo nằm chơ vơ giữa mênh mông đồng cỏ chát.

Đồng Cỏ Chát

Cánh đồng nằm giữa khu rừng tràm U Minh hạ. Nhìn từ xa cứ tưởng lúa đang vào mùa chín rộ bởi một màu vàng rực mênh mông. Tôi nói bà con U Minh năm nay trúng mùa dữ quá ! Chị Thiện nhìn tôi cười thông cảm : Không phải lúa đâu cậu ơi, đó là cỏ chát ! Tôi chợt ngậm ngùi nhìn cánh đồng rồi tìm lại trong ký ức tuổi thơ, hồi ấy, cánh đồng quê tôi cũng có những gò đất mọc đầy cỏ chát. Vào tháng mười, lúa bắt đầu đứng cái, tôi thường lẽo đẽo theo mẹ ra đồng nhổ cỏ chát trên những gò cao. Cỏ chát tấn công làm cây lúa bị èo ọp, lơ phơ như ông già lao phổi, bông cỏ chát chín vàng giống y như màu vàng của lúa.

Chị Thiện nói đất nào cỏ chát mọc thành rừng là người nông dân ở đó không ngóc đầu lên nổi. Điều chị nói được chứng minh bởi dọc theo bờ kinh tôi đã đi qua toàn là những căn chòi. Cái nghèo ở xứ sở nầy còn ám ảnh tôi bởi trên những bờ kinh mọc đầy hoa mua tím. Tôi không hiểu sao một loài hoa đẹp thế lại chỉ mọc trên những vùng đất khô cằn, có lẽ vì vậy mà màu tím hoa mua luôn gợi lên một nỗi buồn man mác. Tôi nhìn chị Thiện, cứ so sánh cuộc đời chị cũng khô cằn như cánh đồng cỏ chát và buồn như màu tím hoa mua. Bốn mươi hai tuổi đời mà trông chị già . . . cóp thùng thiếc như một bà cụ, hàm răng xếu xáo, da đen sạm, nhăn nheo, mắt trũng sâu như người mất ngủ. Chồng chị – anh Tư Điều – đã ôm gần hết cái tài sản hiếm hoi của gia đình để đi theo vợ bé, bỏ chị với bầy con nheo nhóc trong căn chòi giữa cánh đồng nầy suốt sáu năm qua với bao nhiêu khổ đau chồng chất.

Tôi hỏi vì sao ngày xưa chị lấy anh Điều ? Chị trả lời rất gọn : Sợ ảnh chọi lựu đạn vô nhà nên má tôi gả. Thấy tôi trố mắt ngạc nhiên, chị giải thích : Hồi mới giải phóng, ảnh đi du kích ấp, gia đình ảnh cậy người sang hỏi tôi nhưng má tôi không gả vì chê ảnh không biết chữ. Một hôm ảnh ra Cà Mau xin về một xâu lựu đạn đeo đầy hông, qua ngang nhà ảnh nói với má tôi : Nếu bác không gả con Thiện cho tôi, nửa đêm tôi chọi lựu đạn vô nhà thì đừng có nói tôi ác. Suốt mấy đêm liền má tôi không ngủ được. Có lần tôi đang làm cỏ đám mạ, ảnh cầm trái lựu đạn ra dọa tôi : Nếu em không ưng tôi thì tôi cho trái lựu đạn nầy nổ, hai đứa mình cùng chết. Tôi vừa khóc vừa chạy vô nhà. Má tôi thấy không yên nên gả tôi cho ảnh. Năm ấy tôi mới mười sáu tuổi.

Cái kiểu đi hỏi vợ của Tư Điều đã lý giải với tôi về những hành vi mà anh đã cư xử với chị Thiện sau nầy.

Làm dâu được một năm, vợ chồng chị ra riêng với bảy công đất phụ ấm. Chị nói anh Điều không siêng năng, không biết tính toán như người ta nhưng được cái là chị bảo đâu làm đó. Bảy công đất không đủ sống, họ lần lượt khẩn hoang thêm được hai hecta. Nhưng đất ở đây toàn là cỏ chát, cỏ chát làm cho cây lúa nghẽn bông, năm nào trúng lắm cũng chỉ được ba trăm giạ, trừ tiền cày, tiền cấy, tiền phân, tiền gặt, tiền suốt lúa . . . còn lại không được một bồ trong khi sáu đứa con lần lượt ra đời mà mọi chi phí gia đình chỉ dựa vào hạt lúa.

Năm 1992, chị bàn với anh Điều bán bảy công đất phụ ấm để lấy vốn làm ăn, chớ ở cái xứ nầy, xong mùa cấy là ăn ở không, thậm chí kiếm việc làm mướn làm thuê cũng không có. Sau khi bán bảy công đất được 2,6 lượng vàng, chị trang trãi nợ nần hết năm chỉ, còn lại đi mua chiếc ghe với cái máy Robin cũ và một số hàng bách hóa. Cấy lúa xong, hai vợ chồng với sáu đứa con xuống ghe chạy sang rừng đước Năm Căn để làm một cuộc mưu sinh mới. Đến cửa Ông Trang, chị mượn cái chòi vuông tôm bỏ hoang để làm nơi tạm trú. Hàng ngày, Tư Điều cùng với hai đứa nhỏ xuống ghe, chạy đi bán hàng tạp hóa theo các kinh rạch trong rừng, bốn đứa lớn ở lại chòi với chị, hai đứa đi móc cua, hai đứa đi cưa gốc đước về cho chị hầm than. Cực khổ nhưng có đồng ra đồng vô, chị thấy dễ chịu hơn cái cảnh ăn không ngồi rồi, túng quẩn ở quê nhà sau mùa cấy. Đến mùa lúa chín, họ lại kéo nhau về, sau khi đem lúa vô bồ, vợ chồng con cái lại xuống ghe.

Thế rồi hơn một năm sau, chị phát hiện thấy anh Điều có cái gì khác lạ, trước đây chiều nào anh cũng chạy ghe về, dù trời tối cũng về. Còn bây giờ có khi anh đi suốt ba bốn ngày liền, anh nấu cơm ăn luôn dưới ghe. Chị hỏi, anh nói đi bán xa ngoài bãi bồi ven biển, ngủ lại ngoài ấy để hôm sau đi bán cho tiện. Một hôm, bé Nên – đứa con gái mười tuổi – rỉ tai với chị rằng : Con thấy có cô Hồng hay xuống ghe ngủ với ba, ba nói nếu con mét má thì ba đánh. Mấy hôm sau, chị đánh liều nhảy xuống tàu đò ra bãi bồi thì gặp Tư Điều với một người đàn bà ngồi trong quán cà phê. Thấy chị, anh nắm tay người đàn bà ấy nhảy xuống ghe, chị nhanh tay giành lấy cây sào, hai người giằn co nhau, anh nói : Bà về đi, từ nay tôi không ở với bà nữa, tôi đi với con Hồng. Chị nói : Ông đi thì lên bờ mà đi, trả chiếc ghe lại cho tôi ! Anh lại nói : Chiếc ghe nầy do tôi bán đất của ba má tôi để mua, nó là của tôi. Mấy người đàn bà ở xóm bãi bồi kéo lại giữ chiếc ghe giúp chị và xúm nhau xỉ vả bà Hồng : Đồ con đĩ chó ! Mầy là dân nào mà dám công khai giựt chồng giựt ghe người ta giữa ban ngày ban mặt ? Mấy người đàn ông đang đứng trên bờ cũng không kềm chế được, họ mắng chửi Tư Điều : Tôi cho anh đi theo con đĩ ấy nhưng phải trả chiếc ghe lại cho vợ anh, nếu anh lấy ghe, tụi tôi sẽ xử anh như xử một thằng ăn cướp.

Bà Hồng mắc cở bỏ đi. Tư Điều ngồi phệt xuống mũi ghe hút thuốc, đầu gục xuống. Chị Thiện bước ra sau lái nổ máy chạy về.

Hôm sau Tư Điều nằm dàu dàu dưới ghe không đi bán. Chị Thiện đang nấu cơm bổng thấy con bướm bà thật to bay lượn trong căn chòi. Chị linh cảm đây là điềm dữ. Chiều lại bé Nên bị sốt mê man. Chị mua nhang và trái cây ra miếu Bà ngoài ngã ba khấn vái, con bé vẫn sốt cao, người nó nóng như lửa và lên cơn mê sảng, miệng cứ lãm nhãm một câu : Nếu con có chết, má đem con về chôn gần mã ông nội. Chị hốt hoảng chở con sang trạm xá Ông Trang, thấy tình thế nguy ngập, trạm làm giấy chuyển lên bệnh viện huyện Ngọc Hiển. Bác sĩ ở đây cho biết, cháu Nên bị sốt xuất huyết não. Hết tiền, chị gở chiếc máy Robin đem cầm ba trăm ngàn đồng để chữa bệnh cho con, nhưng bệnh tình quá nặng, ba ngày sau nó đã tử vong.

Trong lúc sáu mẹ con chị ngồi quanh xác bé Nên gào khóc, chị đã nhận được những tấm lòng mà cho đến bây giờ chị vẫn không biết của ai giữa nơi xứ lạ quê người, khi tỉnh dậy, chị thấy trong túi mình có một xấp tiền và một chỉ vàng, rồi có mấy người khiêng đến một chiếc áo quan, một chiếc chiếu và một sắp vải mùng, họ nói là của Hội Chữ Thập đỏ giúp chị tẳm liệm cháu Nên.

Chiếc quan tài để trong ghe, sáu mẹ con chị ngồi phía trước, Tư Điều chạy máy. Đến một chòm mả ven sông Cái Keo, Tư Điều ghé lại bảo chôn con ở đây, chị không chịu, chị nói con nó đã đòi về nằm gần ông nội, anh ráng chìu ý con một lần cuối cùng không được sao ? Anh hằn hộc nói : Vậy thì bà đưa nó về đi, tôi trở lại bãi bồi tìm con Hồng. Tư Điều vừa nói vừa đạp lái ghe nhảy lên bờ đi mất, mặc cho năm đứa nhỏ vừa khóc em, khóc chị, vừa gào thét gọi ba.

Mười lăm ngày sau khi chôn cất bé Nên xong, sáu mẹ con chị Thiện tiếp tục xuống ghe quay về căn chòi cũ. Lần nầy thì chị để hai đứa lớn - thằng Nhờ và con Lành - ở chòi lấy củi hầm than, chị chở thằng Em, bé Diễm và bé Trường theo ghe đi bán hàng tạp hóa.

Khoảng một tháng sau, tình cờ một hôm ghé bán hàng cho một quán cà phê trong căn nhà sàn ở cửa Cá Mòi, chị gặp lại Tư Điều. Anh bị sốt rét, người run rẩy xanh xao đang nằm trên võng. Thấy chị, anh quỳ lụy van xin, rằng tôi đã biết lỗi, rằng bà hãy tha thứ cho tôi, từ đây về sau tôi sẽ không bao giờ dám cặp với ai nữa, tôi xin thề suốt đời làm lụng nuôi vợ nuôi con. Chị im lặng để cho hai hàng nước mắt tuôn rơi. Chị nhớ con Nên, nhớ cái hôm anh đạp lái xuồng nhảy lên bờ bỏ mẹ con chị chở chiếc quan tài một ngày một đêm trong mưa gió. Nhưng rồi nhìn cái dáng xanh xao như người sắp chết của anh, chị thấy động lòng. Con Hồng đâu ? Chị hỏi, anh lắc đầu nói : Xin không được vuông tôm, nó bỏ về Cà Mau, từ hôm vô đây đến nay tôi không gặp, tôi đi làm mướn kiếm tiền sống qua ngày rồi bị sốt . . . Chị lại nói : Chớ không phải thấy ông không có chiếc ghe nên nó đá đít ông sao ?Anh thề : Tôi nói thật tình mà, tôi mà có nói gian cho ông trời đánh tôi chết ! Thấy mấy đứa nhỏ than khóc van xin cho anh, chị không nở cầm lòng. Xuống ghe đi ! Chị nói như ra lệnh rồi bước ra phía sau cho nổ máy. Tư Điều lầm lũi bò vô mui ghe, lấy mền quấn lại. Chị Thiện chạy về trạm y tế Viên An Tây đưa anh lên khám bệnh, mua thuốc rồi đưa anh về căn chòi cho thằng Nhờ và con Lành chăm sóc, chị tiếp tục đi bán.

Mấy ngày sau Tư Điều khỏe lại, anh vác búa vô rừng đốn củi cho hai đứa nhỏ hầm than. Chị Thiện thấy công việc buôn bán không hợp với mình nên giao lại cho anh. Tư Điều chở bé Diễm và bé Trường theo ghe, thằng Nhờ đi móc cua, con Lành và thằng Em đi đốn củi, chị trở lại công việc đốt lò than. Chị Thiện hy vọng cuộc sống sẽ dần dần ổn định, kiếm một ít vốn chị sẽ về quê buôn bán cho mấy đứa nhỏ học hành, ít ra thì cũng phải biết đọc, biết viết đúng chính tả, biết cộng trừ nhân chia, không thể để chúng dốt đặc như Tư Điều. Để lớn lên, khi phải lòng ai mà không dám nói thì ít nhất chúng cũng phải biết viết một lá thư chớ không phải cầm trái lựu đạn đi hâm dọa như cha nó hai mươi năm trước. . . Nhiều đêm trong căn chòi chị đã ước mơ như vậy. Thế rồi, kết quả của lòng bao dung tha thứ cho Tư Điều trong cái quán cà phê ở vàm Cá Mòi hôm nọ là một cái bào thai mà sau nầy, có một lý do mà chị phải đặt tên con là thằng Hận.

Một buổi chiều chạng vạng, chị thấy bé Diễm trong cơn sốt run rẩy bò lết vô chòi, nhìn xuống bến không thấy chiếc ghe của Tư Điều, chị hỏi ba đâu? Con bé nói không biết, chị hỏi ai đưa con về đây? Con bé nói Hiếu, chị hỏi cô Hiếu nào? Nó nói cô Hiếu bán ốc len ở chợ Ong Trang, quen với ba. Nó chỉ biết rằng nó bị sốt nằm mê dưới ghe từ hôm qua, lúc nảy tỉnh dậy thì thấy nằm dưới chiếc xuồng nhỏ, cô Hiếu đưa nó lên bờ, bảo nó lội vô chòi rồi chèo xuồng đi mất.

Sáng hôm sau chị đón tàu đò ra chợ Ông Trang để tìm chị Hiếu bán ốc len, bà con trong chợ cho biết : chị Hiếu quê ở Mỹ Tho, làm nghề mại dâm và trôi dạt dần cho đến tận Năm Căn. Sau một đợt truy quét tệ nạn xã hội, chị bị đưa đi cải tạo lao động sáu tháng, không còn đủ nhan sắc để trở lại nghề cũ, Hiếu xuống Ông Trang, chị thuê một phòng trọ, buổi chiều vào rừng bắt ốc len, buổi sáng đem ra chợ bán. Gần đây Hiếu có quen với một người đàn ông bán ghe hàng. Thông tin về chị Hiếu chỉ có thế, chị Thiện tưởng tượng ra rằng, Tư Điều và Hiếu đã mang chiếc ghe đi xây tổ ấm, nhưng tại sao họ lại mang theo cả bé Trường ?

Chị hối hận vì mình đã tha thứ cho anh, nếu không, chị đâu phải mất chiếc ghe và mang thêm cái bào thai trong bụng. Bây giờ thì mọi chuyện đã muộn màng, ở lại thì không biết lấy gì để sống, mà về quê thì lấy gì làm phương tiện đi về. Suốt ba ngày liền chị nằm vật vả trong chòi, không ăn không uống. Chị không ngờ đời mình đến đây phải làm lại từ đầu trong cảnh trắng tay giữa xứ lạ quê người với một đàn con nheo nhóc. Nhưng dù muốn hay không cũng phải làm lại từ đầu. Năm mẹ con chị ì ạch đi lấy củi hầm than, cứ vài ngày thì đón tàu đò chở ra chợ Ông Trang bỏ mối, mỗi phiên chợ cũng kiếm được vài chục ngàn đồng, ba tháng sau, chị tích lũy được sáu trăm ngàn đồng và một trăm ký than, chị quyết định mua chiếc ghe cũ để mấy mẹ con chở một trăm ký than chèo về quê làm ruộng. Một trăm ký than đem về U Minh bán cũng được năm trăm ngàn đồng, ít ra cũng có một ít chi phí lo cho mùa cấy. Ba năm gồng gánh, chống chèo đi lưu lạc xứ người, mất mác nhiều hơn cái làm ra, lại thêm những khổ đau chồng chất, cuối cùng cũng quay lại với cánh đồng cỏ chát . . . Chị đang nghĩ ngợi thì bổng nghe một cơn đau bụng nhói lên, chị buông chèo nhẩm tính . . . vậy là đứa bé sắp ra đời. Chị bảo thằng Nhờ và con Lành, đứa chèo đứa bơi quay xiết lại trạm y tế chợ Đầm Cùng. Hai đứa nhỏ dìu chị lên bờ trong cơn đau quằn quại .

Khi tỉnh dậy, chị biết mình sinh một đứa con trai, chị đặt nó tên là thằng Hận – Phạm Văn Hận. Sau khi hiểu được hoàn cảnh của chị, các nhân viên của trạm y tế đã miễn các khoản chi phí và giúp cho chị tiền thuốc, tiền cơm. Bảy ngày sau, chị gởi cho trạm phân nửa ghe than để gọi là đền ơn đáp nghĩa rồi tiếp tục cuộc hành trình. Thằng Nhờ và con Lành thay phiên nhau chèo. Hễ nước xuôi thì chèo, nước ngược thì đậu nghỉ. Ba ngày ba đêm, mẹ con chị mới về tới Khánh Hòa, về tới căn chòi mằm giữa mênh mông đồng cỏ chát.

Về vừa tới đầu kinh, chị Thiện lại nghe thêm một cái tin sét đánh : Tư Điều đã bán một hecta đất cho vợ chồng Năm Dữ ở cạnh nhà với giá 1,3 lượng vàng, bỏ thằng Trường bên nhà ông bà nội rồi dẫn cô Hiếu ra đi. Nghe nói họ đã bán chiếc ghe để về Mỹ Tho sinh sống.

Chị Thiện bước lên bờ đứng như trời trồng mà nghe đầu óc muốn vỡ tung ra. Mảnh đất nầy hồi cháy rừng U Minh chị đã quần quật mấy năm để lật từng gốc tràm gốc mốp, hì hục từ lúc hừng đông cho đến khi cúm núm kêu mới lê từng bước chân đói lã vô nhà. Bây giờ một nửa đã về tay người khác, còn lại một hecta làm sao đủ nuôi sống cả bảy miệng ăn. Chị qua thương lượng với Năm Dữ rằng để chị đi vay tiền chuộc lại, Năm Dữ không chịu. Chị đâm đơn ra tòa, xin Tòa xử cho chị chuộc lại vì Tư Điều bán đất mà không có sự đồng tình của chị. Tòa mời hai người ra xử nhưng chị thua kiện vì ông phó Chánh án Tòa án huyện U Minh là cậu vợ của Năm Dữ. Ức lòng, chị làm đơn chống án. Toà án tỉnh xử phúc thẩm cho chị được chuộc lại đất. Hôm ấy sau khi xử xong, anh chủ tọa phiên tòa nói với chị rằng trong trường hợp của chị, nếu chị kiện đòi lại đất thì luật pháp vẫn bảo vệ quyền lợi của chị mà vô hiệu hợp đồng bán đất giữa Tư Điều và Năm Dữ, nhưng vì chị đã tự nguyện trả lại cho Năm Dữ 1,3 lượng vàng nên tòa phải xử như vậy. Chị nói chị cũng biết vậy nhưng ở gần ở gũi, làm vậy sẽ gieo cho gia đình Năm Dữ một mối thù.

Hôm ấy chị phải bán con gà mái bốn chục ngàn để làm lộ phí ra Cà Mau dự phiên tòa, cả ngày chị chỉ ăn một gói xôi.

Thắng kiện rồi, chị phải chạy vay 1,3 lượng vàng để nộp cho Đội thi hành án, mỗi tháng phải đóng lời hơn một chỉ. Mấy mẹ con chị phải đầu tắt mặt tối quanh năm, hết mùa ruộng thì kéo nhau đi làm mướn, mà ở xứ nầy ai cũng nghèo, có việc gì để làm ngoài nhổ cỏ mướn, gặt mướn, cấy mướn. Mùa mưa năm ngoái, một tai họa lại giáng xuống gia đình chị : chị với thằng Nhờ, con Lành và thằng Em đi cấy trên hậu đất, để ba đứa nhỏ ở nhà. Buồn miệng, chúng rủ nhau ra bờ kinh nhổ củ xả ăn cho đỡ thèm quà bánh, nhổ xong, thằng Trường mang đi rửa, bị trợt chân, nó té xuống kinh. Khi làng xóm hay tin đem lên xốc nước thì nó đã chết, mấy củ xả còn trôi lờ đờ dưới mé kinh . . .

Kể chuyện thằng Trường xong, chị chỉ sang bé Diễm mười bốn tuổi đang ngồi chơi trước cửa nhà với cái dáng ốm xanh như tàu chuối, chị nói nó đang bị bứu tim, không biết nó sẽ bỏ chị ra đi lúc nào. Tôi hỏi sao không đưa cháu đi bệnh viện, chị nói hôm trước bán hai con gà mái đẻ được bảy chục ngàn chở nó ra bệnh viện Cà Mau, Bác sĩ nói bệnh của nó được điều trị miễn phí nhưng lấy đâu ra tiền để mà ở ngoài ấy nôi con. Vay 1,3 lượng vàng chuộc đất, ba tháng rồi không có tiền đóng lãi, mang giấy chủ quyền đất ra xã làm thủ tục đi Ngân hàng vay vốn thì đất lại do anh Điều đứng tên nên không vay được. Chị ra phòng Địa chính sang tên thì người ta nói phải có mặt anh Điều, hoặc là chị phải làm thủ tục để chứng minh anh Điều mất tích. Chị sang phòng Tư pháp, một cán bộ ở đây bảo chị phải qua Tòa án đóng lệ phí để nhờ họ nhắn tin trên các cơ quan báo chí, nếu sau sáu tháng mà anh Điều không về thì Toà án sẽ làm thủ tục mất tích cho anh và trao quyền thừa kế đất đai cho chị, lúc ấy phòng Địa chính sẽ làm thủ tục sang tên.

Chị nghĩ, anh Điều dứt tình với chị để ra đi một cách biệt tăm sao quá dễ dàng trong khi chị muốn chứng minh cái sự ra đi của anh bằng pháp lý thì lại quá khó khăn ? Chị rời chợ huyện, chèo xuồng về nhà trong mưa và nước mắt. Chị nhẩm tính, nếu mỗi hecta đất nông nghiệp được vay năm triệu đồng thì số lãi phát sinh của 1,3 lượng vàng từ nay đến lúc chị làm xong thủ tục cộng với nợ gốc thì số tiền nếu có vay được của Ngân hàng cũng không đủ trả, lấy gì để đầu tư cho sản xuất ? Nhưng không đi làm đủ các thủ tục để vay thì lấy gì để trả nợ ? Rồi lãi suất mỗi tháng 1,3 chỉ vàng cứ chất chồng lên, lúc ấy có bán hết hai hecta đất cũng không đủ trả.

Chị Thiện ngồi đối diện với tôi trên bộ vạc tre, lưng chị tựa vào tấm vách lá, mắt nhìn xa xăm về phía cánh đồng cỏ chát mênh mông. Đôi mắt trũng sâu và ráo oảnh, có lẽ nước mắt đã cạn nguồn. Tôi cũng ngồi im lặng, không dám hỏi thêm vì sợ tiếp tục khơi dậy những nỗi đau trong lòng chị, mà nói lời an ủi chị thì biết phải nói sao, dù có nói bao nhiêu cũng trở thành vô nghĩa bởi cái cần thiết cho sự sống của mẹ con chị bây giờ không phải là lời nói đầu môi.

Chiếc ca-nô của chúng tôi đậu dưới mé kinh đã gợi sự tò mò cho hàng xóm, họ lần lượt kéo đến đầy căn chòi chị Thiện, những người đàn bà tay bồng tay bế, những đứa trẻ đầu tóc vàng hoe, mình mẩy, tay chân, mặt mày đầy vết bẩn. Chúng trố mắt nhìn những người khách lạ rồi nhìn chiếc ca-nô như chưa từng thấy bao giờ. Còn tôi thì nhìn chúng rồi lại nhìn cánh đồng cỏ chát, nhìn những hàng hoa mua tim tím trên bờ kinh. Cái màu vàng của bông cỏ chát ( mà tôi từng bị đánh lừa tưởng là bông lúa) và màu tím của hoa mua đã nhuốm lên mảnh đất nầy, đã trùm lên bao nhiêu thân phận con người của bao thế hệ, nó vẫn rực lên, ung dung như lời thách thức . . .

Chúng tôi từ giã mọi người rồi cho ca-no nổ máy, không dám nói gì thêm, mà thật ra cũng chẳng biết nói gì. Giá như lời cầu nguyện có linh thiêng, có phép màu thì tôi sẽ cầu nguyện cho chị Thiện có cơ may trả nợ, cầu nguyện cho những đứa trẻ trên cánh đồng nầy đừng trở thành bản sao cuộc đời của cha mẹ chúng !!!

Cà Mau, 16/ 5/ 2001

V.Đ.D

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2008

Một Tạp Văn Siêu Hạng Của TRANG THẾ HY




mt người gọi điện thoại, giới thiệu : “Anh là Thiết, bạn học với Huỳnh Ngọc Trảng”. Nghe nói bạn học với Huỳnh Ngọc Trảng thì phải nể trước cái đã : “Dạ, sư huynh có gì chỉ giáo”. “Anh có mấy người bà con ở Hàm Thuận Nam bị cưỡng chế thu hồi đất, họ dùng roi điện xịt năm người ngất xỉu, một người nặng quá phải đưa vào Sài Gòn cấp cứu”.

Sáng hôm sau gặp nhau trong quán cà phê vỉa hè, Tiên Sinh Huỳnh Ngọc Trảng nói: “Mấy tháng qua, đọc tùy bút chính trị của Nguyễn Khải, muốn bỏ việc. Sau đó lại ngốn thêm mấy cái bút ký của mầy: Đất Của Mẹ, Thư Sài Gòn, Trên Đồng Bưng Sáu Xã, đọc xong cứ muốn tự tử cho rồi”. Như có sự trùng hợp ngẩu nhiên, câu chuyện chưa đâu ra đâu thì anh Thảo từ Đức Hòa gọi điện: “Họ cào nhà tui để giao đất cho công ty Ngọc Phong rồi chú ơi, có cách nào giúp tui”.

Tôi nói với anh Trảng và anh Thiết: Viết về cái ác thì dễ, chỉ cần báo họ chịu đăng, nhưng cái ác vẫn ngang nhiên tồn tại trong sự thách thức và đe dọa đời sống con người. Điều đó hoàn toàn ngoài khả năng của người cầm bút. Hãy đọc tạp văn sau đây của Tiền Bối Trang Thế Hy mà chia sẻ cùng tôi.




CON MÈO HOANG

VÀ NHÀ THƠ CÓ GIA CƯ

TRANG THẾ HY


Tôi thắp sáng ngọn đèn nhỏ của bàn viết và ngồi bất động trước thếp giấy trắng. Không phải trắng tinh hay trắng phau. Trắng đây là trắng vì chưa có chữ. Bộ phận biến điện già nua của bóng đèn ống ba tấc rên e e như tiếng gáy của một con dế nhúi. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ mà chức năng thông thường là báo thức cho người ngủ giờ này đang làm một chức năng khác là báo cho một người thức biết rằng thời gian đang trôi đi.

Mầu trắng cực trắng toát ra từ sự chưa có chữ của trang giấy ngà ngà thô nhám đang đe dọa thị như ngọn roi mây treo trên vách đe dọa một thằng nhỏ nhát đòn nằm sấp trên đi-văng chờ mẹ đánh.
Theo thói quen của một người yếu bóng vía, cần vịn vào một cái gì để xua đuổi nỗi cô đơn, tôi quay mặt nhìn về một góc của căn gác để tìm bóng dáng người bạn hằng đêm, giờ này thường có mặt. Đó là một con mèo mướp, có đôi mắt mầu xanh lân tinh, được hầu hết các hộ trong xóm công nhận là một con mèo hoang rất dễ thương, đến viếng nhà nào cũng chỉ để rình bắt chuột thôi, rất ít khi ăn vụng. Tôi bắt gặp bạn tôi cũng đang ngồi bất động dòm chăm bẳm vào cái hốc lổn ngổn đủ các thứ thúng mủng, chai lọ, thau chậu, bếp lò và nhiều đồ linh tinh khác.
Meo! Meo! Tôi khẽ gọi bạn theo thường lệ. Và cứ như thường lệ của mỗi đêm thì bạn tôi sẽ đến cọ lưng vào ống chân tôi kêu ngao ngao. Tôi sẽ ôm bạn tôi đặt lên đùi, vuốt ve vài cái, nói vài ba câu ba láp gì đó rồi đuổi bạn đi chỗ khác chơi, để cho tôi làm việc.
Nhưng đêm nay bạn tôi không kêu ngao ngao đáp lại mà cứ lặng im nhìn vào một điểm cố định của xó gác. Tôi gọi thêm hai tiếng meo meo nữa bạn mới quay lại nhìn tôi, ve vẩy cái đuôi dài, chót đuôi hơi cong lên biểu lộ sự bất bình, nét bực bội giận dữ ánh lên trong đôi mắt mầu xanh lân tinh bên dưới cặp chân mày đang cau lại (chỗ này xin mở ngoặc để tự giới thiệu rằng tôi là một nhà thơ có quyền nhìn thấy nhiều thứ mà người "không phải nhà thơ" không nhìn thấy, chẳng hạn như sự cau mày của loài mèo vốn không có lông mày).
Tôi chợt biết bạn tôi đang rình bắt chuột và cùng với sự chợt biết đó, tôi đọc được ngôn ngữ lặng thầm của đôi mắt mầu xanh lân tinh kia: "Trời sanh mèo để bắt chuột giống như trời sanh nhà thơ để làm thơ. Lúc ông ngồi rình bứt những tứ thơ, tôi tôn trọng ông, tôi ngoan ngoãn đi chỗ khác chơi để ông làm việc. Vậy cớ sao lúc tôi ngồi rình chụp bắt những con chuột, ông lại quấy rầy tôi? Ông bật đèn, gây tiếng động và phá đám tôi bằng cách giả làm mèo kêu meo meo kích động ý thức cảnh giác của loài chuột?".

Tôi tắt ngọn đèn bàn. Căn gác chìm vào bóng tốị Không đầy một phút sau, có tiếng chai lọ ngã lổn cổn, thau chậu khua leng keng. Tôi bật đèn lên. Người bạn mặc áo sọc xám có đôi mắt mầu xanh lân tinh đang khoan thai bước về phía tôi, miệng ngoạm một con chuột nhắt nhỏ còn kêu chít chít yếu ớt trước khi chết. Bạn tôi nhả con chuột ngay dưới gầm bàn rồi không đợi tôi cúi xuống ôm nó, nó đã nhảy phóc lên ngồi gọn trong lòng tôi, miệng kêu một tiếng ngao nhỏ rất thanh, trong âm sắc hoàn toàn không có chất khoe khoang thành tích. Tôi vuốt lưng bạn tôi và nhìn vào đôi mắt xanh đang nhìn tôi. Trong ánh mắt đó có lời mời tôi luận bàn thế sự.
Một vài nét về lý lịch của tôi à? Được thôi! Nhưng để thỏa mãn sự tò mò cần thiết đó, ông phải có đủ thiện chí để dám tin vào những chuyện rất khó tin tuy có thật. Điều ông sắp nghe không phải chỉ là sơ yếu lý lịch của một kiếp mèo hoang. Người bạn có hình hài mèo này của ông có thể viết đầy đủ chi tiết về tất cả các tiền kiếp xa xưa hàng ngàn năm của y.
Ông không tin ở luân hồi à? Mặc kệ ông. Tôi vẫn cứ phải nói. Vì có như vậy ông mới lắng nghe được điều tôi nói. Chỉ trong vòng chừng vài thế kỷ trở lại đây thôi, tôi từng là một con cuốn chiếu, một nhà tư bản tài phiệt, mà vị tổng thống đương nhiệm muốn phát động chiến tranh phải xin ý kiến, một gã ăn mày hào hoa có nhiều vợ, một con lươn, một nhà cai trị mị dân thừa bản lĩnh, một con đom đóm, một nhà thám hiểm có tên trong từ điển, một cô gái điếm và bây giờ, trong kiếp này đây là một con mèo hoang được nhiều người thương nhờ siêng bắt chuột và ít khi ăn vụng.
Nhờ đâu mà tôi biết rõ các tiền kiếp của tôi như vậy ? Như vừa mới nói, cái kiếp gối đầu với kiếp mèo hoang này của tôi là kiếp gái điếm. Một cô gái điếm đẹp từng làm sụp đổ hàng chục cái gia tài đồ sộ của khách làng chơi, nhờ chết trẻ cho nên còn nhan sắc. Bằng nhan sắc đó, tôi đã mua chuộc được lão quan chức già mà còn háo ngọt ham vui, phụ trách cháo lú. (à, té ra ông lầm tưởng rằng chỉ trong cái cõi người của ông, mới có sự móc ngoặc và hối lộ. Xin báo cho ông biết rằng dưới âm phủ, Diêm Vương cũng đang đau đầu vì chuyện đó). Vậy là thay vì húp cháo lú để quên các tiền kiếp, cô gái điếm mỹ miều được xơi một tô bào ngư đầy sơn hào hải vị làm cho nhan sắc của cô ta được gia tăng gấp bội. Nhờ vậy, cô ta tiếp tục mua chuộc thêm nhiều tay háo sắc khác. Trước tiên là tay trưởng ngành lưu trữ hồ sơ mật và tiền hậu kiếp của mọi sinh vật trên dương thế. Kế đó là tay chủ nhiệm câu lạc bộ văn nghệ. Về tay này, phải có vài câu giới thiệụ .Lúc cầm cái thẻ để đi qua cửa địa ngục trở về dương thế, anh ta đọc thấy mình sẽ đầu thai làm một nhà văn, liền quành trở lại tìm gặp ông Lỗ Tấn xin ý kiến. Ông Lỗ Tấn nói nhà văn giống như một con bò sữa ăn thì ăn cỏ khô, cống hiến cho đời thì cống hiến bằng sữa tươi. Anh ta nghe vậy hoảng quá, bèn tặng cái thẻ đi đầu thai làm nhà văn cho một hồn ma nặng nợ với bút nghiên, còn anh ta thì xin "tị nạn chính trị", vĩnh viễn chọn cõi âm ty làm quê hương. Từ cái vị thế bấp bênh của hồn ma tạm trú, không có hộ khẩu, anh ta trèo lên đến chủ nhiệm câu lạc bộ văn nghệ là cả một bản trường ca đầy uẩn khúc, nhưng đó là chất liệu phải để dành cho một cuộc mạn đàm khác. Bây giờ thì xin báo cho ông biết, tại câu lạc bộ văn nghệ của anh ta, tôi đã gặp nhà thơ Pháp Charles Baudelaire và nhà văn Đức Maria Remarque.
Tại sao trong hàng ngàn những bậc thầy lỗi lạc của văn học mà tôi được gặp tôi lại chỉ kể tên có hai vị thường thường bực trung nầy mà thôi? Vì hai ông nầy có liên quan đến cuộc mạn đàm của chúng ta đêm nay.
Tôi biết ông đang nghĩ ngợi khen vì một bản trường ca chống chiến tranh mà ông rất lấy làm tự hào. Ông có biết Baudelaire đã định nghĩa cho tôi nghe trường ca là cái gì không? Trường ca là nơi ẩn náu của những nhà thơ bất tài không làm nổi một bài thơ ngắn. Còn về nội dung chống chiến tranh thì ông hãy lắng nghe lời tâm sự của Remarque: "Tôi tưởng quyển tiểu thuyết "Mặt trận phía Tây không có gì mới" của tôi đã gây được một chút đổi mới nào đó trong tư duy của bọn chánh khách hiếu chiến. Té ra nó không làm rung được một sợi lông chân nào của gã đồng hương với tôi tên là Hitler suýt chút nữa biến lục địa châu Âu thành bãi tha ma".
Khoan, ông khỏi bổ sung. Để tôi nói thêm cho rõ điều tôi muốn nói. Tôi không truyền giảng cái bất lực của nhà văn và sự phù phiếm của văn chương đâu. Tôi không đòi hỏi văn học chỉ đơn độc một mình nó có thể dập tắt tất cả ngòi nổ của chiến tranh đâu. Nếu như vậy thì trời sanh những chính khách, những kinh tế gia, những nhà bác học để làm gì? Tôi chỉ muốn nói với ông một lời khuyên thân ái nhẹ nhàng là đừng nên tự huyễn hoặc rằng mình có những cống hiến lớn trong khi những thành đạt của mình thực ra là hết sức nhỏ nhoi.
Lời khuyên thứ hai của tôi là ông nên tự lượng sức mình và phải chân thực. Hồi nãy, lúc ông ngó dáo dác tìm tôi để xua đuổi nỗi cô đơn, ông lầm tưởng rằng cái cô đơn của ông là thứ cô đơn cao quý mà các bực thầy thường nhắc đến mỗi khi ngồi trước trang giấy trắng. Không phải đâu. Cái tên chính xác nhứt của tâm trạng ông lúc nãy là nỗi cô độc bi thảm của người cầm bút nuôi nhiều tham vọng lớn bằng một tài năng nhỏ và muốn thu hoạch sự mến mộ thật của người khác bằng những xúc động giả của chính tâm hồn mình, nói nôm na là bằng sự lường gạt. Đừng nổi giận! Cầm bút mà nổi giận khi có ai "đi guốc trong bụng" mình sẽ không viết được gì đâu. Tôi xin đơn cử tức thời một thí dụ về sự lường gạt của ông. Cách đây không lâu, tên ông được nhắc nhở qua một bài thơ được ngâm ngợi ở nhiều tụ điểm câu lạc bộ thơ ca Trong bài thơ đó, chị công nhân quét rác mặc áo rách được ông miêu tả là đẹp hơn và thơm hơn một cô tiểu thư môi son ngồi trên chiếc xe hơi chạy ngang qua. Rất tiếc là trong những người nhẹ dạ bị xảo thuật ngôn từ của ông lường gạt không có ai chất vấn ông coi cái đẹp và cái thơm của cô công nhân quét rác trên đường đi đến trang giấy có ghé ngang qua trái tim của ông không. Nếu có ai hỏi ông sẽ ú ớ ngay. Vì ngay trong thời điểm ông được khen là có quan điểm giai cấp trong yêu ghét ấy, mỗi khi đến gần cô công nhân quét rác, ông nín thở vì sợ mùi hôi của rác và trong những giấc mơ ân ái, ông chỉ mơ những cô gái môi son ngồi xe hơi. Sợ rác hôi và ham gái đẹp không có gì là trật, đó là chuyện thường tình. Điều tai hại ở đây là ông đòi người khác yêu ghét thật cái mà bản thân ông yêu ghét giả.
Cứ như vậy, ông sẽ quằn quại mãi trong nỗi cô độc bi thảm của tên phù thủy mượn chữ nghĩa làm âm binh chứ không bao giờ vươn tới được niềm cô đơn cao quý của người cầm bút dùng ngôn từ truyền giảng tình người.
Ông không giận tôi à? Tốt quá! Nhưng đao to búa lớn cỡ đó cũng hơi nhiềụ Bây giờ mình tâm sự nghề nghiệp với nhau cho nhẹ nhàng hơn một chút nhé! Khi nhìn ông là đồng nghiệp tôi đã nâng cao nghề bắt chuột của tôi hay hạ thấp nghề làm thơ của ông? Không có chuyện hạ thấp hay nâng cao gì hết. Bắt chuột và làm thơ tuy khác nhau về hình thái lao động, nhưng giống nhau vì một mục đích chung là diệt ác, là vun vén cho điều Thiện làm cho cõi thế tục này bớt dung tục được chút nào hay chút đó.
Tại sao loài chuột cứ còn hoài à? Xin ông đừng hỏi khó tôi như vậỵ Bởi vì, để trả miếng, tôi sẽ hỏi lại ông một câu không kém phần thắt ngặt: "Tại sao cái ác cứ còn hoài?". Cứ vấn nạn nhau như vậy mãi, thì từ chuyện tâm sự nghề nghiệp này sẽ không nảy ra được một hạt nhân chân lý nào và rốt cuộc ông sẽ phải chịu thua tôi.
Thí dụ như hiện giờ nếu bị đòi hỏi phải trưng ra một mảnh tử thi của điều ác để chứng minh mục đích làm điều thiện của mình thì tôi đang có sẵn cái tử thi của con chuột dưới gầm bàn của ông kia. Còn ông, ông trình ra cái gì? Đừng... đừng bước lại kệ sách và quăng mấy tập thơ mỏng dính của ông ra. Ông hãy lắng nghe cho kỹ, trong một núi sách cao như ngọn Hy Lạp Sơn, có phải quyển sách nào cũng là một quyển sách đâu. Xin lỗi ông nhé! Có khi chỉ có chừng vài ba quyển đáng được gọi là sách mà thôị .Còn chuột hả? Một con chuột là một con chuột, và một triệu con chuột vẫn cứ là một triệu con chuột, một triệu tế bào sống của điều ác - nhiều quá đếm có hơi mệt chút thôi, nhưng khỏi phải thông qua một sự giám định nghiệm thu nào để xác nhận một con chuột là một con chuột.
Cho nên thì giờ có hạn, ta nên nhìn vào tình cảnh cụ thể của nhau để cảm thông cho nhau và dễ bề tâm sự với nhau hơn.
Còn có một tên gọi khác nữa để gọi một con mèo hoang như tôi. Đó là con mèo vô chủ. Tôi chuyển qua cách nói này để đem cái hoang đàng vô chủ của tôi đối chiếu với cái ổn định, được bao bọc của ông là một nhà thơ có gia cư. Sự đối chiếu nầy có khi gợi được một vài điều gì đó đáng suy nghĩ. Người ta nói đánh chó phải kiêng chủ nhà. Tôi tin rằng cái lệ nầy cũng được áp dụng bán chính thức luôn cho cả loài mèo và loàị.. người.
Thành thử kẻ nào muốn đánh phải thận trọng ngó trước dòm sau cho kỹ coi ông đang ngồi dưới tán dù của ai, người đó mạnh cỡ nào. Còn cái phận mèo hoang của tôi thì tha hồ mạnh ai nấy đánh. Cho nên muốn tồn tại tôi phải vất vả hơn ông nhiều. Tôi phải tự tu dưỡng về phẩm hạnh, đói bụng ráng chịu, không ăn vụng mà lại phải bắt chuột thật nhiều, thật giỏi để tranh thủ tình thương của rất nhiều ông chủ, trong đó không một ông chủ nào có trách nhiệm về sự đói no ấm lạnh của đời tôi. Còn ông, có khi ròng rã một hai năm, không làm được một bài thơ nào ông vẫn cứ được lãnh lương. Điều này được gợi ra để ông thương tôi hay tôi thương ông? Hồi năm ngoái có một đêm thấy ông nằm thao thức mãi tôi đã chịu khó nhìn thấu vào tim ông và phát hiện rằng ông mất ngủ không phải vì bị chê bai mà vì được binh vực. Trong ngày, giữa một cuộc họp ban đồng hương, một người bạn nhiều thiện chí đã đỡ đòn cho ông bằng một câu: "Thôi, mình bàn qua chuyện khác đi, đừng đòi hỏi một người làm thơ ăn lương làm thơ hay". Một lời binh vực ông mà lại làm cho ông đaụ Nói thật, trong cái đêm ông thao thức đó, tôi đã thương ông vô hạn.
Lùi xa hơn chút nữa vào quá khứ hồi Mỹ còn làm mưa làm gió ở cái đất Sài Gòn nầy, ông đã từng sống lang thang, vô gia cư như tôi bây giờ đây. Hồi đó, ở ông có rất nhiều thứ giả, tên họ giả, thẻ căn cước giả, tờ khai gia đình giả, những câu trả lời phỏng vấn cũng giả luôn. Chỉ có một cái rất thật, đó là tình yêu của ông đối với lý tưởng ông ôm ấp. Nhờ cái thật đó, số thơ được in rất ít ỏi của ông vẫn giúp ông sống được bằng thơ không phải bằng tiền lương. Ông chủ đất lúc bấy giờ chẳng những không trả lương cho ông mà còn lùng bắt ông như mèo lùng bắt chuột. Thời đó, mình chưa kết bạn với nhau, nhưng tôi biết ông đã từng trải qua nhiều đêm thao thức không ngủ được không phải vì đau mà vì vui. Thỉnh thoảng ông nhận được một bức thư của một người không quen ở rất xa. Lời thư rối rắm đầy những ẩn dụ tối nghĩa (phải dùng trái tim làm khóa mã mới đọc được) nói rằng những suy nghĩ ông gửi gắm vào một bài thơ ngắn nằm lạc lõng giữa những khuông quảng cáo mỹ phẩm và lời rao cho chuộc chó bẹc-giê chạy lạc, đã được người bạn không quen kia cảm thông và chia sẻ. Tôi nhớ rõ cái tứ của bài thơ đó. Nó tường thuật cuộc xung đột giữa một bên là bà mệnh phụ cỡ lớn, chủ một ngôi biệt thự đồ sộ và bên kia là một cô gái ăn mày bệnh hoạn lẻn vào nằm co trên chiếc băng đá trong khuôn viên biệt thự. Phe bà mệnh phụ có thêm viên cảnh sát được mời tới để can thiệp và cô gái ăn mày có được một đồng minh là em bé đánh giày cũng lẻn vào vườn tìm chỗ ngủ trộm như cô. Bài thơ nói rằng đạo lý ở về phía của hai con người bất hạnh vô gia cư bị đuổi đi. Chất nghịch lý trong chuyện nầy có vẻ khó chấp nhận hơn là cái nghịch lý về vẻ đẹp và mùi thơm của cô công nhân quét ra rác, ấy vậy mà bài thơ đã đi vào lòng người. Vì cô gái ăn mày và em bé đánh giày ngày xưa là ruột gan của ông ta moi ra đặt lên trang giấy, còn cô công nhân quét rác hôm nay là sản phẩm của một công trình xào nấu lại những tứ thơ cũ, động cơ xào nấu không phải là một xúc động có thật, mà là một ý đồ lường gạt. Hồi đó, ông rất trân trọng bức thư nhưng vẫn đành phải đốt bỏ, vì biết đâu chừng ngày hôm sau ông sẽ ngồi trong khám và bức thư kia sẽ làm liên lụy đến một người bạn đọc không quen mến mộ ông. Những bức thư loại đó không nhiều lắm nhưng cũng không thưa thớt lắm. Chất dinh dưỡng của nó rất cao để nuôi ý chí ông trong những ngày đen tối. Bây giờ thì hàng chục năm nay, chỉ gợi lại thôi, ông cũng đã thấy xót xa rồi, nói làm chi đến chuyện dám ước mơ nhận được một bức thư như vậy!

Xin lỗi vì đã gợi cho ông một điều suy nghĩ buồn. Nói xin lỗi do quen miệng thôi. Tôi không có lỗi đâu. Điều suy nghĩ buồn nầy không làm u ám mọi soi sáng tâm tư ông. Nó giúp ông vùng vẫy ngoi ra khỏi nỗi cô độc bi thảm và chỉ hướng cho ông vươn tới niềm cô đơn cao quý của người cầm bút.

Thôi, chúc ngủ ngon ! À, nói vậy mà không phải vậy đâu nhé. Chúc ông nằm thao thức nghe ác quá. Nhưng nếu đêm nay ông ngủ ngon, thì những lời tâm sự của tôi là "Nước đổ lá môn" hay sao ?


-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2008

TẢN MẠN VỀ MỘT LOÀI ONG





Quen nhau trong mấy ngày lội rừng ở Lâm ngư trường Sông Trẹm, trước khi chia tay, kỹ sư Phùng Hữu Chính – làm việc ở Trung tâm nghiên cứu ong Hà Nội – tặng tôi tờ tạp chí Con ong của Viện nghiên cứu ngành ong Trung ương. Tất nhiên, tờ tạp chí đã giúp tôi hiểu thêm rất nhiều về con ong ở góc độ khoa học. Song, điều làm tôi cảm nhận một cách lý thú là ở trang cuối, ông Mai Lương đã dày công ghi lại những câu thơ mà Thi hào Nguyễn Du đã mượn hình ảnh con ong để mô tả thân phận của Thúy Kiều trong mười lăm năm lưu lạc :

Êm ềm trướng rũ màn che.

Tường đông ong bướm đi về mặc ai

*

Tiếc thay một đóa trà my

Con ong đã tỏ đường đi lối về

*

Đổi hoa lót xuống chiếu nằm.

Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi

*

Sợ khi ong bướm đãi đằng.

Đến điều sống đục sao bằng thác trong

*

Biết bao bướm lả ong lơi.

Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.

*

Mặt sao dầy gió dạn sương.

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân

*

Khen cho những miệng dông dài.

Bướm ong lại đặt những lời nọ kia

*

Thiếp từ ngộ biến đến giờ.

Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa

*

Tình nhân lại gặp tình nhân.

Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình

Thì ra hàng trăm năm trước, con ong đã đi vào đời sống con người một cách sâu xa đến như vậy. Thế mới biết vì sao trong tình yêu người ta hay ví con gái là hoa, con trai là con ong hay con bướm. Và cụm từ trò ong bướm cũng được dùng để ám chỉ những kẻ thiếu nghiêm túc trong quan hệ tình cảm. Có lẽ bắt đầu từ một thực tế trong đời sống thiên nhiên, loài ong không thể sống được nếu không có hoa. Và ngược lại, hoa cũng không thể thụ phấn để kết trái được nếu không có sự tác động của loài ong. Bởi trong thế giới của các loài hoa – loại trừ hoa lưỡng tính và một vài loài hoa đơn tính thụ phấn nhờ gió – hầu hết được kết tinh là nhờ quá trình hút mật của ong, con ong bay từ hoa nầy sang hoa khác, chúng mang nhị hoa đực sang nhụy hoa cái làm cho hoa cái thụ tinh và kết trái. Phải chăng từ rất xa xưa ông cha ta đã phát hiện ra điều kỳ diệu nầy trong tạo hóa để con ong bị mang tai tiếng đến hôm nay ?

Tất nhiên có nhiều loài ong và ong nào chích cũng đau bởi chúng tiết ra một loại độc tố mà ta quen gọi là nọc. Thậm chí có loài ong đánh chết người như ong vò vẽ. Nói chung, tất cả các loài ong đều sống nhờ mật hoa nhưng nổi tiếng nhất vẫn là ong mật ở rừng tràm U Minh. Theo kỹ sư Phùng Hữu Chính thì loài ong nầy có tên khoa học là Apisdorzata, được phân bổ ở các khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở các nước châu Á. Song, môi trường lý tưởng nhất của chúng vẫn là rừng U Minh bởi sự hấp dẫn của hoa tràm. Loài ong nầy sở dĩ được cả thế giới quan tâm là vì mật của chúng là nguồn dinh dưỡng quý giá cho con người. Riêng đối với cánh thợ rừng ăn ong chuyên nghiệp, sau khi lấy mật đem bán, phần ong non là món mồi nhậu cao cấp mà trong chúng ta, ai đã từng nếm qua mới biết giá trị của nó như thế nào.

Xin cảm ơn các nhà khoa học đã đưa tấm thân cho ong đánh đến hàng trăm, hàng ngàn vết để chúng ta có những tư liệu đầy lý thú về xã hội của loài ong.

Một trong những con người dũng cảm ấy mà tôi có may mắn được gặp là kỹ sư Trần Quốc Thái, năm nay chưa đầy ba mươi tuổi. Thái được Trung tâm nghiên cứu ong Hà Nội phân công về Lâm ngư trường Sông Trẹm để nghiên cứu kinh nghiệm của nghề gác kèo ong truyền thống ở U Minh theo một dự án của Hà Lan. Cứ sáng sớm Thái chạy xuồng máy vô rừng, có khi lội theo các cụ già trong Đoàn Phong Ngạn, có khi suốt ngày làm việc bên những tổ ong, chiều chạy về. Ngày nào trên người Thái cũng đầy những vết đỏ bầm do ong đánh. Người ta kể rằng có những lần Thái bị đàn ong tấn công đến mức phải đưa đi cấp cứu. Đến nay dường như cơ thể của Thái đã bị chai lì, Thái xem chuyện ong đánh chỉ là những trò chơi, thậm chí anh còn cho rằng ong đánh rất nên thuốc vì nó chữa được bệnh đau nhức. Nhiều đêm Thái kể tôi nghe về chuyện sinh hoạt xã hội của đàn ong một cách say sưa làm tôi cứ ngỡ như anh với đàn ong kia vốn là bầu bạn.

Thái nói, con ong quản lý xã hội của chúng có những cái độc đáo mà con người cần rút kinh nghiệm. Chẳng hạn như cái tổ ong có đến bảy tám chục ngàn lao động mà chỉ một mình con ong chúa chỉ huy, không có trợ lý, không có phó gíam đốc, không phòng tổ chức hành chánh, cũng không có phòng kế toán, tài vụ, không có phòng nhân sự, không có chi đoàn, công đoàn, . . . nói chung là không có bộ máy gián tiếp. Dưới ong chúa chỉ có hai nhóm chuyên môn là ong đực và ong thợ. Ở chúng không có xảy ra chuyện đấu đá nội bộ hay tranh chức tranh quyền, lại càng không có chuyện móc ngoặt, hối lộ hay ăn cắp của công. Chính vì sự liêm khiết và tinh thần đoàn kết ấy mà công việc làm ăn của chúng cứ chạy một cách răm rắp, luôn đạt hiệu quả kinh tế cao, không bao giờ bị mất cân đối hay thua lỗ, không thất thoát một đồng xu cắc bạc nào. Bằng một quy trình công nghệ quản lý rất chuyên nghiệp, sau khi đậu kèo được hai mươi ngày là ong thợ đã xây xong tổ và lấy mật dự trữ đầy kho, đồng thời chúng thay nhau chăm sóc ong chúa, đi lấy nước, lấy phấn hoa về nuôi ấu trùng và thay nhau quạt để điều hòa nhiệt độ cho tổ ong khi gặp thời tiết bất thường. Trong thời gian nầy, ong chúa vừa làm nhiệm vụ đẻ trứng, vừa tiết ra chất chúa để điều khiển đàn ong – mà theo con người gọi đó là phầm mềm quản lý. Cứ 24 giờ, mỗi ong chúa sản sinh ra 1.500 con ong thợ. Đến khi một thế hệ ong thợ trưởng thành, ong chúa chọn ngày lành tháng tốt để đẻ ong đực và chúa non, chuẩn bị cho mùa chia đàn, thành lập thêm một doanh nghiệp mới – mà con người gọi là công ty thành viên.

Ong đực không làm gì khác ngoài chức năng giao phối – một thứ nghĩa vụ và quyền lợi của đàn ông. Một nhiệm vụ rất vinh quang cho sự sinh tồn nòi giống nhưng cũng đầy bi kịch, có nghĩa là sau một phút huy hoàng rồi . . . chết ! Nhưng để được giao phối với ong chúa, chúng phải tổ chức một cuộc thi tài vô cùng nghiệt ngã : đàn ong đực bay theo ong chúa hàng chục giờ trên độ cao ba mươi mét, cuối cùng chỉ một con thắng cuộc, sau đó tất cả đều chết. Được cũng chết, không được cũng chết ! Có lẽ cảm thông được số phận của ong đực nên cánh ong thợ không bao giờ đối kỵ, trù dập hoặc kiểm điểm chúng chỉ biết ăn không ngồi rồi để làm mỗi chuyện dâm ô.

Ong thợ ngoài nhiệm vụ phát triển kinh tế kết hợp với an ninh quốc phòng, chúng còn rất giỏi trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Có thể nói mỗi con ong thợ là một diễn viên múa rất tài hoa. Kỹ sư Thái nói rằng mỗi điệu múa của chúng có một ngôn ngữ riêng, ví dụ như trên đường đi lấy mật, chúng nhảy điệu tango; khi phát hiện hoa tràm, chúng nhảy điệu slow; khi gặp con người, chúng chuyển sang điệu lambada . . .

Ông Ba Rựa làm nghề gát kèo ong ở U Minh gần sáu chục năm, năm nay ông đã gần chín mươi tuổi, lưng còng, sức yếu nhưng vẫn không chịu bỏ nghề. Thậm chí đến mùa ăn ong, ông bỏ nhà vô rừng cất chòi ở, cho con cháu khóc lóc năn nỉ ông về, ông vẫn ở miết trong rừng mặc dù cháu con ông có thừa sức tạo cho ông cuộc sống an nhàn sung sướng. Cuối cùng ông nghiệm ra một diều : cái mà ông mê không phải là tổ ong hay mật ong mà chính là cái điệu múa của con ong trong mùa đi lấy mật. Ông nói nó múa đẹp đến nổi bắt mình cứ nhìn theo, lội theo, quên cả rắn hổ dưới chân . . .

Tôi được mời dự một cuộc hội nghị của Đoàn Phong Ngạn với gần một trăm người làm nghề gác kèo ong. Hỏi ra, hầu như không có ai khẳng định rằng cái nghề gác kèo ong nuôi sống được gia đình. Nhưng rốt cuộc, chẳng những họ không bỏ được nghề mà còn dốc tâm truyền lại cho con cháu, dù biết rằng rừng U Minh mỗi ngày cứ thu hẹp lại, hoa tràm cứ tiếp tục nghèo đi. Trong hội nghị nầy có mấy người khách quốc tế tới tham dự và phát biểu ý kiến trao đổi về nghề gác kèo ong, ông Vincen – một chuyên gia nghiên cứu nghề nuôi ong của thế giới, đại diện cho Ủy ban khoa học kỹ thuật vì Việt Nam của Hà Lan đang đầu tư cho chương trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện nghề nuôi ong gác kèo ở U Minh – nói : nghề gác kèo ong cổ truyền ở U Minh là một nghề độc đáo, độc đáo cả về kỹ thuật lẫn nghệ thuật mà cả thế giới không có.

Nghe ông nói, tôi cố đi tìm hiểu xem ông tổ của nghề gác kèo ong là ai và vì sao gọi là Đoàn Phong Ngạn. Cuối cùng cũng không ai biết được, kể cả người cao tuổi nhất là ông Ba Rựa. Ong Ba Rựa chỉ kể đại khái rằng ngày xưa, vài trăm năm trước, người ta phát hiện ra rằng ong mật chỉ làm tổ trên những cây tràm bị gãy nằm nghiêng giống như cây kèo nhà. Thực tế đó đẻ ra cái nghề gác kèo ong, rồi nghề dạy nghề, kinh nghiệm tích lũy dần qua nhiều thế hệ để đi đến sự hoàn thiện như một quy trình kỹ thuật. Ngày xưa rừng dày đặc, người ta phải dọn một khoảng trống cho ánh sáng chiếu vào rồi gác cây kèo trong đó. Khi đàn ong trinh sát đi tìm nơi xây tổ, gặp cái khoảng trống có khúc cây nằm nghiêng, xung quanh không có cỏ rác, không có ổ nhện, chúng dùng một điệu múa báo hiệu cho cả đàn bay đến. Hai mươi ngày sau, khi tổ ong đầy mật và mật đủ độ chín, người thợ rừng đến dùng cây đuốc bằng sậy khô và lá tràm tươi để un khói xua đàn ong bay đi, họ dùng dao cắt lấy gần hết phần mật và nửa phần ong non. Vài phút sau đàn ong trở lại, ong thợ lập tức xây lại nhà cửa và lấy mật mang về dự trữ. Cứ mỗi lần như thế, người thợ rừng thu được từ 5 đến 10 lít mật trên mỗi tổ ong. Mỗi vụ mùa thu được ba lần, mỗi năm chia làm hai vụ theo hai mùa bông tràm. Hồi xưa, người thợ rừng có thể thu được mỗi năm hàng ngàn lít mật,

Cũng không biết tự thuở nào, rừng U Minh hình thành các Hiệp hội gác kèo ong gọi là Đoàn Phong Ngạn. Mỗi đoàn từ năm mươi đến bảy mươi người. Đoàn Phong ngạn có luật riêng, dù luật không thành văn nhưng được tuân thủ rất nghiêm khắc, trong đó có những quy định về việc bảo vệ và phòng chống cháy rừng. Có lẽ hơn ai hết, dân Phong Ngạn là đội quân bảo vệ rừng nghiêm ngặt nhất mà không phải trả lương bởi họ yêu rừng như yêu sự sống của chính mình. Cũng chính vì lẽ ấy mà trận cháy rừng năm 1983, dân Phong Ngạn khóc như đám tang, nhất là những cụ già.

Mỗi năm, trước mùa ăn ong, các Đoàn Phong Ngạn họp nhau làm heo cúng rừng, khấn vái trời đất, thần linh phù hộ và thề sống chết có nhau. Ông Ba Rựa kể rằng hồi ông còn trai trẻ, có một người từ vùng trên xuống đây xin vào Đoàn Phong Ngạn nhưng lại có máu tham. Hành nghề chưa được bao lâu, ông ta đi ăn trộm tổ ong của người khác. Bị phát hiện, ông ta bị trục xuất ra khỏi Đoàn. Nhưng trước khi đi, Đoàn buộc ông ta phải bàn giao toàn bộ số kèo ong lại cho người bị trộm. Luật của Phong ngạn là như vậy, cả đời ông Ba Rựa chỉ chứng kiến một trường hợp phạm luật duy nhất xảy ra.

Bây giờ, trở lại U Minh gặp những người thợ rừng cao tuổi, hỏi chuyện ăn ong ngày xưa, các cụ kể lại một cách say sưa hào hứng. Nhưng khi hỏi chuyện ăn ong bây giờ, các cụ thở ra đầy tiếc nuối, mắt đăm chiêu nhìn những cánh rừng lồi lõm như da beo.

-->đọc tiếp...