Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2009

RƠM RẠ DẠI KHỜ




BÀI ĐĂNG TRÊN GIAI PHẨM XUÂN ACB



Hồi ấy, chị Vân thường rủ tôi ra đồng giữ trâu với chị, chị nói đi một mình sợ ma, rủ tôi đi cho vui. Đó là những ngày sau tết, lúa đã vô bồ, còn lại cánh đồng mênh mông gốc rạ. Vào những buổi trưa nắng, chị Vân bảo tôi cột trâu lại, còn chị tìm đến một cái gò cao, lựa một đám gốc rạ còn xanh, chị lấy dao cắt một lõm đủ hai người nằm rồi trãi dưới đất một lớp rạ khô, phần rạ tươi, chị phủ lên che nắng. Khi tôi cột xong mấy con trâu thì chị Vân cũng vừa làm xong cái chòi rạ. Chị nhìn tôi cười mĩm: “Giống cái túp lều lý tưởng hôn ?”. Rồi không ai bảo ai, chị nằm xuống trước, tôi nằm theo sau, cạnh chị. Thỉnh thỏang, chị lại nhìn sang tôi cười mĩm, tôi cũng cười, rồi cả hai chìm trong giấc ngủ trưa. Có hôm tôi thức trước, chị Vân vẫn còn ngủ say, chị nằm thẳng người, hai tay úp lên ngực, hơi thở cứ đều đều. Lúc ấy trời đã xế dài, những tia nắng dìu dịu trùm lên cánh đồng rạ khô vàng rực, mênh mông. Chị Vân ngồi bật dậy, lại nhìn tôi cười rồi lại vỗ lên đầu tôi: “Ngủ ngon hôn, thằng nhóc !”

Chúng tôi lùa trâu đến một cái đìa lớn giữa đồng, từng người bạn mục đồng cũng lần lượt lùa trâu đến. Tôi đứng dưới cầu thang múc từng thùng nước chuyền lên cho chị Vân đổ vào thau cho trâu uống. Như một thói quen, khi đàn trâu uống nước no nê thì đến lượt con người tắm rửa. Cả gái, cả trai cứ để nguyên quần áo, tắm xối xả trên bờ đìa. Trong bộ bà ba đen đẫm nước bó sát người, chị Vân gánh hai thùng nước đi tắt đường đồng về nhà, tôi ngồi trên lưng trâu lững thững theo sau. Đôi gánh oằn vai, chị đi trong bóng chiều thấp thóang.

Tôi về nhà, cơm nước xong thì trời chạng vạng, hàng xóm lên đèn, trăng rằm tháng giêng cũng lấp lánh ở đầu sông. Tôi sang nhà chị Vân, hai chị em ra ngồi dưới cây rơm, bắt đầu công việc quấn hai con cúi dài để làm bếp un xua muỗi cho bầy trâu. Quấn xong, chị Vân đốt lửa, tôi lấy nước rưới lên con cúi cho lửa rơm đừng cháy, cho khói bốc lên ngun ngút, từng làn khói trắng cuồn cuộn, mịt mờ phủ lên cả bầy trâu, mùi khói rơm đầu mùa nghe thơm nồng như mùi lúa mới. Chúng tôi lại ngồi tựa dưới chân rơm. Bấc giác chị Vân xoa đầu tôi, chị hỏi tôi mấy tuổi, tôi nói mười lăm. Chị bảo: “Nhỏ hơn chị hai tuổi, mà sao mầy khờ quá !”. Tôi chưa hiểu chị nói gì, rồi chị kể: “Cùng tuổi với mầy, nhưng thằng Tư nó cặp bồ với con Xuân, thằng Hòa cặp với con Gấm, mùa nước mặn đuổi năm rồi, chúng nó đi giăng lưới, ban đêm tụi nó ngủ chung xuồng. Con Xuân, con Gấm cũng lớn hơn tụi nó hai ba tuổi . . .”

Tôi cúi đầu hổ thẹn, thẹn cho cái phận nghèo hơn là thẹn cho cái sự khờ khạo của mình. Tôi nghĩ chị Vân thương tôi như một đứa em, một đứa em nghèo khổ mà chị cần giúp đỡ. Hồi ấy, tôi luôn mặc cảm với bạn bè trong xóm vì nhà mình ít ruộng lại không có trâu, nhà nông mà không có trâu thì đương nhiên là nhà nghèo. Mấy công ruộng nhà tôi, những công việc ngòai sức người đều dựa vào đàn trâu của chị Vân. Mùa cày mùa trục thì bác Năm – ba chị – tính tiền công, đến mùa gặt, cộ lúa vào sân cũng tính tiền công, nhưng trâu đạp lúa thì bác không tính tiền, nhưng bù lại tôi phải giữ trâu trả công cho bác trong một hai tháng trước và sau tết. Bác Năm quy ước với ba mẹ tôi là vậy, nhưng chị Vân ít khi để tôi giữ trâu một mình, ngay cả những ngày trâu đạp lúa, bác nói chỉ cho mượn trâu, tôi tự đánh trâu trên nhã lúa, nhưng chị Vân lúc nào cũng có mặt, thay phiên làm công việc ấy với tôi.

Ban đêm, khi cho trâu ngừng đạp để bắt bó, ra rơm, thay vì đốt đèn măng-xông thì chị Vân rủ tôi xuống bờ sông đốt lửa, chị nói mình chịu tốn công mà khỏi hao dầu. Tôi ôm từng ôm rơm quăng xuống nước, chị mồi lửa và lấy sào tre đẩy từng đống lửa trôi bồng bềnh, sáng rực một khúc sông. Cứ thế, không biết từ mùa lúa nào, việc gì tôi cũng làm cùng chị, việc gì chị cũng gọi tôi. Ngay cả những khi ra đồng cộ lúa, chị cũng rủ tôi lên chiếc cộ trâu ngồi với chị. Những buổi tối nướng bánh phồng đãi khách, chị cũng gọi tôi sang đốt rơm, chị kẹp bánh phồng chao tới chao lui trên ngọn lửa. Khi giê lúa, chị là người đứng trên giàn giê, chị lại bảo tôi đứng cạnh để chuyền từng thúng lúa lên cho chị. Cũng chính lần ấy, lần đầu tiên trong đời tôi phát hiện ra chị Vân là người con gái đẹp. Hôm ấy chị mặc bộ bà ba màu đen, cái dáng cao cao, chị đứng trên giàn giê lúa cũng cao cao, từng cơn gió lùa qua, chị nghiêng vành thúng, lúa hột tuôn xuống, lúa lép bay bay, bụi rơm bay bay, tà áo chị cũng bay bay, ngược theo chiều gió là một cơ thể đẹp, những đường nét cong cong của vòng eo, vòng ngực căng tròn. Tôi cứ nhìn ngẩn ngơ mà quên chuyền lúa lên cho chị. Bất giác chị quay xuống, dường như bắt gặp ánh mắt của tôi, chị vội đưa tay níu nhanh vạt áo, mặt đỏ bừng. Tôi lại cúi đầu hổ thẹn, tiếp tục chuyền lúa lên mà không dám nhìn chị nữa.

Và, tôi không ngờ khi mình không còn “dại khờ” như chị nghĩ thì đó lại là mùa lúa cuối cùng tôi được gần gũi chị. Mùa sa mưa năm ấy, mẹ tôi đưa tôi ra chợ, từ giã rạ rơm để làm gã thư sinh giữa chốn thị thành. Khi tôi biết được tình yêu thì hình ảnh người con gái trong tôi là chị. Là chị với những giấc ngủ trưa trong chòi rạ giữa đồng, là chị với đôi thùng nước, chiếc đòn gánh oằn vai đi giữa đồng rạ khô trong bóng chiều thấp thóang, quần áo ướt mem bó sát thân gầy, là chị ngồi dưới cây rơm quấn từng con cúi làm bếp un trâu, là chị ngồi đốt rơm sáng bừng cả một khúc sông, là chị với những đường nét cong cong, ngực căng tròn đứng trên giàn giê lúa . . . Nhưng năm sau, nghỉ hè, tôi về quê thì chị đã đi lấy chồng xa. Mùa sa mưa, cây rơm – chổ tôi với chị hay ngồi quấn con cúi – đã rủ mục, những chiếc nấm rơm bung trắng một vùng tròn.

Hơn ba mươi năm, cuộc đời đưa đẩy tôi thành kẻ ly hương mà chưa được một lần gặp chị, chắc tóc chị bây giờ cũng lớm đớm như tôi. Nếu tình cờ đọc được những dòng nầy, chắc chị sẽ cười thầm và mắng thầm trong bụng: “Cái thằng quỷ, sao hồi xưa mầy khờ quá vậy !”

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2009

DỬNG DƯNG CÙNG BÓNG TỐI





Căn nhà lụp xụp ẩn sau bờ tre giữa giồng cát mịt mờ gió bụi, nắng trưa như thiêu đốt cả xóm làng. Thạch Rươl - người đàn ông 51 tuổi - đang nằm võng dưới gốc bàng trú nắng. Nghe tiếng xe gắn máy dừng lại trước sân, anh đứng dậy và bước đi lọang chọang vào nhà, hai tay quờ quạng tìm cánh cửa. Bất chợt tôi gặp tấm bảng nhỏ trên vách với dòng chữ “ Tổ ấm tình thương, gia đình Phật tử, mùa Vu lang 1994”. Tôi chợt nghĩ, nếu không có căn nhà tình thương nầy thì không biết gia đình anh sẽ sống ở đâu bởi cả nhà anh có đến bốn người mù, chỉ còn mỗi vợ anh và đứa con trai 11 tuổi là sáng mắt. Thạch Rươl cho biết, cách nay khỏang bảy tám năm, bỗng dưng mẹ anh bị mù. Ban đầu đôi mắt mờ dần, hơn hai năm sau thì tối hẳn. Rồi tiếp theo đến lượt anh và hai đứa con anh cũng thế. Đứa con trai anh năm nay 28 tuổi, vừa mù vừa bệnh tâm thần, đã bỏ nhà đi lang thang không biết nó đang ở phương trời nào, sống chết ra sao ? Còn Thạch Thị Huệ, năm nay 22 tuổi, may mắn hơn thằng anh vì nó chỉ mù một mắt, được một sư cô dẫn lên Sài Gòn cho ở mướn. Nhưng cũng vì một mắt mà nó chỉ được trả lương mỗi tháng bốn trăm ngàn đồng. Tôi hỏi hàng ngày lấy gì sống, Thạch Rươl nói vợ anh ra rẫy làm mướn, còn anh với thằng con trai vác lưới ra biển kéo cá, kéo tôm. Chị trưởng ấp nói thêm: “Tội lắm, cha vừa vác lưới, vừa vịn vai con lần dò từng bước hơn hai cây số, vấp ngã mấy lần mới ra tới biển, mò mẫm, lặn hụp cả ngày kiếm được vài chục ngàn đồng”.

Đi qua bờ ruộng chừng hơn trăm mét, cũng dưới lùm tre là căn chòi đổ nát của hai mẹ con ông Thạch Cô, cả hai đều bị mù, cũng không ruộng đất. Tôi hỏi ông sống bằng gì, ông chỉ tay về phía cánh đồng xa xôi và nói: “ Vợ tôi với mấy đứa nhỏ đi làm mướn”. Mẹ ông, bà Thạch Kel cho biết: “Thấy vậy chớ sắp có nhà mới rồi chú ạ, miếng đất kế bên đó, mấy chú trên xã chuẩn bị cất cho cái nhà tình thương, mừng quá !”

Bà Dương Thị Thao, 82 tuổi, sống một mình trong căn chòi chật hẹp bị che phủ bởi đám tre gai. Bằng giọng nói run run với cái nhìn chơi vơi như thẳm sâu trong bóng tối, bà kể:“Cách nay khỏang năm năm, tự dưng một con mắt bị mờ dần,rồi từ từ nó tối hẳn, một năm sau thì đui hết hai con”. Tôi hỏi bà sống bằng gì, bà nói thì cứ ngồi ở đây, hàng xóm cho gì ăn nấy. Anh bạn tôi dúi vào tay bà tờ giấy bạc, bà chắp hai bàn tay lên ngực, ngước mặt lên trời: “Nam mô a di đà Phật !”

Có lẽ hạnh phúc hơn những người mù mà chúng tôi đã gặp ở đây là cô Kim Phượng. Năm 20 tuổi, Phượng yêu một chàng trai cùng làm thuê trong xóm rẫy. Một mối tình chân quê đang đằm thắm ngọt ngào thì đùng một cái, mùa khô năm 2000, cả ấp Đại Bái phát lên dịch đau mắt, hàng chục người bị mù, đôi mắt của Kim Phượng cũng chìm dần trong bóng tối. May thay, tình yêu không chết theo đôi mắt của cô. Chàng trai ấy đã xin phép cha mẹ cô cho anh rước cô về, dựng một túp lều nhỏ ngòai đê biển, ngày ngày anh đi làm thuê làm mướn để nuôi cô.

Có một điều rất lạ, dường như chẳng thấy ai tỏ ra than thân trách phận hay buồn đau về sự tăm tối của mình, họ cứ thản nhiên như việc gì đến phải đến. Bà Tư Thanh kể: “Năm đó bỗng dưng tôi nghe hai con mắt nó xốn xốn, đau đau, ông thầy thuốc ở xóm trên bảo về lấy trái chuối hột đập cho dập ra, đem nhúng dấm rồi đắp lên, tôi làm theo thấy hết đau nhưng sau đó không thấy đường luôn”

Chị Lý Thị Liên, trưởng ban nhân dân ấp Đại Bái A, xã Lạc Hòa cho biết, ấp của chị có 81 người mù, đại đa số là phụ nữ trong tuổi lao động. Hỏi có ai giải thích về nguyên nhân, chị nói không nghe rõ lắm, có người nói do nguồn nước, có người nói do môi trường vệ sinh không bảo đảm, có người lại nói do củ hành tím gây ra, chẳng hiểu đâu là nguyên nhân chính. Anh Lâm Au, chi hội Chữ thập đỏ xã Lạc Hòa cho biết, từ năm 2000 đến nay, các tổ chức từ thiện của Việt kiều Mỹ, Uc, Canada đã trực tiếp liên hệ với anh để đưa bà con mù lên Sài Gòn điều trị đến chín lần, mỗi lần vài chục người, chuyến gần đây nhất trước tết nguyên đán là 63 người, tổng cộng có trên 260 người thóat mù, chưa kể các tổ chức từ thiện trong nước trực tiếp xuống xã đưa bà con lên Trung tâm y tế huyện xóa mù cho hơn 80 người nữa. Như vậy, Lạc Hòa đã xóa mù cho hơn 300 người.Trong đợt khám sàng lọc tuần qua, Lạc Hòa có 60 người sẽ được tiếp tục xóa mù trong tháng tới, còn lại khỏang 240 người không còn khả năng điều trị.

Theo bác sĩ Vương Văn Quang, giám đốc Trung tâm y tế dự phòng huyện Vĩnh Châu thì Lạc Hòa và Vĩnh Hải là hai xã có tỷ lệ bệnh nhân mù cao nhất trong huyện ( nếu không muốn nói là trong cả nước ). Chúng tôi hỏi con số bệnh nhân mù trong tòan huyện là bao nhiêu ? Bác sĩ Quang nói rằng chưa có cuộc điều tra xã hội học để kết luận về thực trạng cũng như chỉ số gia tăng mỗi năm là bao nhiêu, chỉ biết rằng từ năm 2002 đến nay Vĩnh Châu đã kết hợp với các tổ chức y tế và từ thiện trong và ngòai nước để xóa mù cho hơn 1300 người, nhưng chủ yếu là mổ đục thủy tinh thể và mây thịt, còn các nhóm mù khác vẫn chưa có giải pháp. Bác sĩ Quang cũng cho biết thêm, từ năm 2000, sở y tế tỉnh Sóc Trăng đã có một công trình nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố liên quan đến bệnh mắt ở Vĩnh Châu, nhưng đến nay, giữa kết quả nghiên cứu và thực trạng đời sống của người dân có liên quan đến bệnh mù chừng như vẫn còn khỏang cách.


-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2009

TRÍCH NGANG NGƯỜI MIỀN TÂY




BÀI ĐĂNG TRÊN BÁO XUÂN PHÁP LUẬT

Học giả Nguyễn Hiến Lê trong tập bút ký Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười, ngay khi viết lời tựa, ông đã kể lại hai câu chuyện bình dị mà với ông, ông xem như chuyện lạ: Vào những năm của thập niên ba mươi, sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chánh Hà Nội, ông được phân công vào Đồng Tháp Mười làm công tác đo đạc. Một đêm nọ, tình cờ ông ghé đụt mưa dưới mái hiên căn nhà lá bên bờ kinh Phong Vĩ, lúc ấy khoảng hai giờ khuya. Trong khi ông sợ làm phiền chủ nhà thì bà cụ trong nhà bật quẹt, mở cửa bước ra, mời ông vào nghỉ. Ông áy náy vì căn chòi chỉ sáu mét vuông,hai bà cháu phải cuốn mùng, nhường chỗ cho ông ngồi và kiên quyết giữ ông lại cho đến khi trời tạnh. Câu chuyện thứ hai, một lần ông ghé qua vườn quýt ở Tân Thuận, bà chủ nhà tuy nghèo nhưng kiên quyết giữ ông lại để đãi một bữa cơm do chính tay bà nấu, và khi ông xuống ghe thì thấy ở dưới ghe đã có sẵn mấy chục trái quýt và hai nải chuối.

Thật ra, đó chỉ là những chuyện rất đỗi bình thường trong cách ứng xử, lòng mến khách của người dân miền Tây. Nhưng với Nguyễn Hiến Lê, một trí thức Bắc Hà, ông tỏ ra trân trọng và cảm mến như một nghĩa cử cao đẹp mà ông chưa từng thấy, cho nên, ông nói kể những câu chuyện nầy để mong rằng đồng bào Trung, Bắc hiểu đồng bào miền Nam hơn, và ông cảm thấy xấu hổ thay cho những bạn bè có học thức mà tỏ ra miệt thị những cư dân trên vùng gọi là đất mới nầy.

Đọc Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười, tôi chợt nghĩ, nếu Nguyễn Hiến Lê đã chứng kiến những câu chuyện như tôi đã từng chứng kiến, chắc chắn cụ sẽ xúc động mà viết cả hàng trăm trang sách.

Năm 1985, Minh Hải thành lập Hội Văn học Nghệ Thuật, chúng tôi đưa khách mời đi tham quan huyện Thới Bình bằng một chiếc xe đò. Trên đường về gặp trận mưa to. Đường đất, xe mắc lầy giữa chừng. Khi hết mưa thì trời chập choạng tối. Ai cũng ngà ngà say rượu nên cứ xuống xe mà thả bộ theo con đường đất đỏ, thậm chí vừa đi vừa rót rượu chuyền cho nhau uống, cứ nghĩ đi vài tiếng đồng hồ sẽ về tới Cà Mau. Đến lúc không còn thấy đường đi, tôi ghé vào một ngôi nhà trong xóm xin một bó lá dừa làm đuốc, chợt nghe đói bụng, tôi hỏi chị chủ nhà còn cơm nguội không, cho tôi xin một chén. Chị bưng ra nguyên nồi cơm với một dĩa mắm sống, mình thì cảm động đến đứt ruột, còn chị thì tỏ ra áy náy: “Mấy chú thông cảm mà ăn cho đỡ đói, tại vì bất ngờ quá nên không chuẩn bị, thôi thì có gì ăn nấy”. Ai cũng bắt đầu đói bụng nên xúm lại ăn. Thấy vậy chị chủ nhà chạy qua hàng xóm xin thêm cơm, năm mười phút sau, cả chục gia đình thi nhau mang cơm ra đường, lăng xăng mời gọi, mắm sống, mắm kho, cá kho, thịt kho, cả xóm mang ra cho mấy chục người cùng ăn dưới đuốc lá dừa. Và, khi biết rằng chúng tôi phải lội bộ về Cà Mau thì có ai đó gợi ý nên ngủ lại. Vậy là, cả xóm lại lăng xăng dọn dẹp nhà cửa, trải chiếu giăng mùng cho khách. Đến năm giờ sáng, cả đoàn chúng tôi đón tàu đò về Cà Mau. Cho đến bây giờ, đã hơn hai mươi năm, có lẽ trong chúng tôi nhiều người đã quên một chuyến lỡ đường đêm ấy, ngay cả tôi cũng không còn nhớ cái địa danh của xóm ấy là gì, những người chủ nhà ấy là ai.

Năm 1999, hai vợ chồng nhà văn Nguyễn Quang Thân và Dạ Ngân xuống Cà Mau. Anh Thân muốn có một chuyến lang thang vùng sông nước. Tôi thuê một chiếc vỏ lãi khá lớn, có mui để che nắng che mưa và mang theo cả xoong nồi, chén dĩa, lò than, gia vị để tự nấu ăn. Khi đến Xóm Mũi, cái xóm nhà tận cùng đất nước, lúc ấy trời sắp tối, chúng tôi cặp vào bến sông chuẩn bị nấu ăn thì chị chủ nhà bước xuống làm quen. Chị nói: “Mấy anh không tới đây thì thôi, đã tới rồi thì chúng tôi coi là khách, hổng lẽ gia đình tôi không lo cho mấy anh chị một bữa cơm, một đêm ngủ đàng hoàng mà phải ăn bờ ngủ bụi”. Tôi thì không lấy làm ngạc nhiên, nhưng đối với nhà văn Nguyễn Quang Thân, ấn tượng của anh cũng không khác gì học giả Nguyễn Hiến Lê khi đến Đồng Tháp Mười.

Trưa hôm sau, chúng tôi rời Đất Mũi, đi theo đường biển qua Đầm Bà Tường. Vào đến giữa đầm thì mặt trời sắp lặn, ráng chiều ửng đỏ trên mặt đầm hòa quyện với hàng ngàn chiếc đèn đó rực lên như một rừng sao. Như không kềm chế được, anh Thân thốt lên: “Trời ơi, đẹp hơn cả Hồ Tây !”. Thấy có một căn nhà sàn vô chủ ở giữa đầm, chúng tôi bày ra bữa cơm chiều. Đang ăn thì bất giác vợ chồng anh chủ nhà bơi xuồng về tới. Chúng tôi đâm ngượng, định lựa lời xin lỗi thì anh chủ nhà lại ngập ngừng xin lỗi ngược lại: “Xin lỗi mấy anh chị, khách tới nhà mà chúng tôi không về kịp để đón tiếp”. Vậy là, chủ với khách cứ tự nhiên mà ngồi nhậu với nhau. Khỏang tám giờ tối, một chị phụ nữ từ trong bờ chèo xuồng ra, nói: “Thấy ở ngoài nầy vui quá, ra chơi”. Uống cạn vài ly, chị nói: “Hổng mấy thuở anh chị từ Hà Nội vô chơi, mời anh chị lên nhà tôi cho biết”. Chúng tôi theo chị lên bờ, thoáng chốc đã nghe tiếng con gà la cái áo, vài phút sau, một dĩa lòng gà xào củ hành được mang ra, lai rai chưa hết thì nồi cháo gà cũng chín tới.

Mấy tháng sau, trên đường đi làm phim Sông Nước Cà Mau, chúng tôi tìm lại anh Nguyễn Việt Hùng - người chủ căn chòi giữa Đầm Bà Tường hôm ấy - để thực hiện những cảnh quay về cuộc sống của anh. Anh Hùng quê ở Kiên Giang, đi bộ đội, xuất ngũ, làm thầu số, phá sản rồi theo vợ về quê, mua lại 80 miệng đó giữa Đầm Bà Tường để mưu sinh. Luật chơi ở cái đầm nầy có một điều rất lạ, mỗi sáng anh đi đổ đó về thì ở nhà đã có năm ba chiếc xuồng từ trong bờ chèo ra chờ sẵn để lấy cá. Sau khi bán tôm, phần cá anh chia đều cho mỗi người trong khi số cá ấy, nếu bán, cũng bằng hoặc hơn số tiền tôm. Hỏi sau vậy, anh nói luật ở đây là vậy, mình chỉ bán tôm, còn cá thì cho những người ở trên bờ. Không ai quy định thế, nhưng dường như ai cũng hiểu rằng cái đầm rộng hàng ngàn hecta nầy là của thiên nhiên ban tặng cho cư dân trong vùng chớ không của riêng ai, người khai thác nguồn lợi thì phải chia sớt cho cộng đồng cùng hưởng.

Trong những ngày lang thang trên sông nước Cà Mau, chúng tôi gặp một nhân vật khá nổi tiếng trên vùng đất nầy, đó là anh Hai Ô Rê, người sáng chế ra chiếc máy kéo xuồng qua đập, một công nghệ hiện đang ứng dụng cho cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Ở một số tỉnh cuối cùng của miền tây Nam Bộ, gọi là vùng bán đảo Cà Mau có một hệ sinh thái đặc biệt, đó là một mùa nước mặn và một mùa nước ngọt. Trước khi vào mùa nước mặn, các con đập đều được đắp lại để giữ ngọt cho vùng lúa bên trong, chính vì vậy mà xuồng ghe từ các con rạch ra sông vào mùa nầy phải kéo ngang qua đập, nỗi nhọc nhằn ấy trở thành nỗi ám ảnh qua bao thế hệ đời người. Năm ấy, anh Hai Ô Rê được cha mẹ cho ra riêng, cấp cho miếng đất cất nhà ngay con đập Hai Hạt. Đến mùa nước mặn, chính quyền địa phương giao cho anh giữ đập, bù lại anh được miễn lao động công ích. Tưởng dễ ăn, ai dè mỗi ngày đêm có hàng trăm chiếc xuồng ra vào qua đập, những cụ già, phụ nữ, trẻ con . . . anh Hai không thể không ra tay kéo tiếp. Bất chợt một đêm nọ, anh nghĩ đến việc chế tạo ra một đường ray úp qua con đập, gắn lên đó một chiếc xe, dùng dây cáp kéo qua kéo lại thông qua một cái trục quay, chuyền qua vô-lăng . . .

Gần một tháng trời lặn hụp, anh Hai đã thành công. Chỉ cần chiếc xuồng rướn lên chiếc xe, anh dùng tay xoay chiếc vô-lăng mấy tua thì chiếc xuồng chạy bon bon qua đập như một phép màu. Anh nghĩ tiếp, thay vì dùng tay thì có thể dùng động cơ. Anh lại thành công. Một chiếc xuồng chở lúa, một chiếc tàu đò chở mấy mươi hành khách vẫn có thể lướt qua con đập một cách nhẹ nhàng. Khách đến tham quan đông nghẹt xem anh Hai vừa biểu diễn vừa thu tiền, mỗi chiếc hai ngàn, năm ngàn, mười ngàn, hai chục ngàn . . . tùy theo trọng tải. Rồi cán bộ thuế xuống kiểm tra thu thuế, rồi bà con ở các nơi kéo đến học nghề, rồi họ làm không thành công, phải rước anh Hai về sửa chữa . . . Vài năm sau, cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long ứng dụng công nghệ của anh Hai để kéo xuồng qua đập. Mỗi con đập đều phải đấu thầu, nhà nước thu mỗi năm hàng chục tỷ đồng. Hỏi có ai trả tiền bản quyền cho anh Hai không, anh bảo không, thậm chí họ mời đi khắp nơi để thi công cho họ, cũng chẳng có đồng nào, chỉ giùm rồi uống rượu đế trừ. Thì kệ, chịu chơi là đồ bỏ mà !

“Chịu chơi là đồ bỏ”, câu nầy dường như tôi đã quen thuộc từ lâu.

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2009

THƯƠNG NHỚ CHIỀU XƯA




Bài đăng trên báo Xuân Người Lao Động


Tết năm ngoái không về quê, tối Ba Mươi, tôi chạy xe đi dạo một vòng Sài Gòn. Lạ, đêm Ba Mươi Tết của Sài Gòn vắng lặng khác thường. Đường phố thưa người, nhà nhà khóa cửa. Hóa ra Sài Gòn không phải của người Sài Gòn. Người Sài Gòn ai cũng có một miền quê. Bởi thế, ngày Ba Mươi Tết là ngày của những đoàn xe chen nhau từ Sài Gòn đi về mọi nẻo đường đất nước. Tôi lang thang trên đường Lê Hồng Phong rồi rẽ vào một con hẻm, ghé vào nhà anh Hai Bạch, người anh bà con bên ngoại, gốc Cà Mau. Anh Hai Bạch lấy khô trâu ra nướng, hai anh em ngồi uống bia cho đến giao thừa. Mùi khô trâu bốc lên giữa Sài Gòn trong đêm Ba Mươi Tết cứ làm cho hai anh em tôi chìm sâu vào một vùng tuổi thơ trong ký ức. Mùi rạ, mùi rơm, mùi khói đốt đồng, mùi khói un trâu, mùi cá lóc nướng trui quyện trong từng cơn gió bấc.

Năm 1966, trước khi Ba tôi mất một năm, lúc ấy tôi còn là thằng bé chưa biết gì, đầu hớt cua, người hôi trâu khét nắng. Hôm ấy Ba tôi từ chiến trường về, sau một cuộc giao tranh, ông mang về một đùm thịt trâu chừng năm bảy ký, ông nói con trâu Pháo của bác Tư Vạn chết vì mấy viên đạn súng trường xuyên qua bụng, không biết của phe địch hay phe ta. Hồi ấy, xứ tôi có một tập quán rất lạ, hễ trâu chết thì chủ trâu xẻ thịt cho cả xóm cả làng, không bán dù gia chủ rất nghèo. Ba tôi bảo mẹ tôi lấy một ít thịt trâu đem luộc, chấm cơm mẻ ăn, phần còn lại để ông làm khô, dành Tết uống trà. Ba tôi không uống rượu, vả lại hồi chiến tranh, không ai dám uống rượu say, phòng khi bất trắc nên Ba tôi thường làm các loại khô để uống trà. Ông xẻ thịt trâu ra từng lát mỏng, ướp xì dầu, đường, tỏi, ớt rồi lấy dây lạc xỏ từng miếng đem phơi tòng teng trên cây so đũa sau nhà. Một lát sau, nghe tiếng quạ kêu cụt cụt, Ba tôi xách cái nạng giàn thun chạy ra thì một bầy quạ đen bay vút lên trời, mỗi con mang theo một miếng thịt trâu lòng thòng như thách thức, những con không đớp được mồi thì kêu quạ quạ rồi rượt đuổi đồng loại để tranh ăn. Ba tôi đứng nhìn theo mà chửi lầm bầm trong tiếc ngẩn tiếc ngơ. Mấy hôm sau, đến chiều Ba Mươi Tết, Mẹ tôi ngồi gói bánh ích, Ba tôi đi lẩn quẩn trong nhà như suy tính một điều gì. Rồi bất giác, ông xách cái thùng thiếc – cái thùng dâu lửa con sò 20 lít mà người ta hay dùng làm thùng gánh nước – ra đồng và bảo tôi đi theo. Ông nói mình đi bắt cá cạn về ăn Tết. Trên cánh đồng chỗ cạn chỗ sâu, chỗ khô, chỗ còn xăm xắp nước, lúa đang vào mùa chín rộ, một màu vàng rực mênh mông. Ba tôi đứng chắp tay sau lưng như chiêm nghiệm, có một giác quan thứ sáu báo hiệu cho ông biết rằng, trong những đàn cá mắc cạn vì mê ăn nên không kịp xuống đìa sau trận mưa rước cá cuối năm, chỗ nào có nhiều cá trê vàng đang ẩn náu. Như xác định được mục tiêu, ông ra hiệu cho tôi lội băng xuống một cái bàu cạn giữa đất chú Bảy Nhiều. Đúng là ông có giác quan thứ sáu, một cái vũng xăm xắp nước chừng vài trăm mét vuông, cá trê ăn móng nghe chốc chốc. Nghe có tiếng người, chúng chui vào nằm im trong gốc lúa sập. Ba tôi dùng hai bàn tay úp nhẹ lên gốc lúa, rồi từ từ ông moi ra từng con cá trê vàng mập ú, lớn hơn cổ tay. Cứ mỗi gốc lúa như vậy, ông bắt được vài ba con. Đến khi mặt trời ngã màu vàng yếu ớt trên đồng, thùng cá cũng sắp đầy, ông bảo thôi mình về, bắt một hồi nữa làm sao xách nổi.

Về nhà, tôi lấy cục xà bông Cô Ba với cái bàn chải xơ dừa ra bờ ao, tắm gội, kỳ cọ, chà xát cho người trôi hết đất bùn rồi mặc bộ đồ mới, mang dép mới vô nhà thì mâm cơm đón rước ông bà tổ tiên cũng đã dọn ra. Cá trê vàng nấu canh bắp cải, cá trê vàng kho tiêu, cá trê vàng nướng dầm nước mắm gừng. Bữa cơm chiều Ba Mươi Tết chỉ có vậy mà đầm ấm, mà nhớ đời.

Hai mươi năm sau, tuy đã dấn thân vào chốn thị thành nhưng cái nghề bắt cá đồng đối với tôi vẫn được xem là một thứ tài vặt để lấy lòng cô bác nông dân và mấy cô thôn nữ. Dặm cù bắt chuột, đặt trúm, giăng lưới, cắm câu . . . hoặc nấu những món ăn dân dã, đồng quê đã cho tôi một cái tên để bà con gọi là anh nông dân cầm bút. Cũng chính vì cái tài vặt ấy mà tôi đã dính chân với một cô gái ở ven rừng U Minh hạ. Câu chuyện bắt đầu từ việc đi câu những con cá rô thóc, hái những cọng rau đồng khi trời mới sa mưa, đến khi lúa trổ đòng đòng, rủ nhau bơi xuồng ra đồng giăng lưới. Từ cánh đồng lạ trở thành cánh đồng quen, quen đến như trở thành một chốn phải quay về. Và năm ấy, bất chợt tôi băng đồng lội về vào một chiều Ba Mươi Tết. Nhìn cái cảnh năm sáu chị em vừa mới mồ côi mẹ, tôi chợt nhớ ai đó từng đọc mấy câu thơ:

Tết nầy mặc áo bông

Ăn bánh tét bánh phồng

Không còn đâu nữa mẹ xoa mái đầu

Tết đến, nhà xiêu vẹo, mấy chị em ngồi chụm vào nhau, cặm cụi, lần mò gói từng đòn bánh tét một cách khó nhọc. Nhìn ra đồng, lúa đang mùa chín rộ, tôi chợt nhớ buổi chiều Ba Mươi của hai mươi năm trước với Ba tôi, với thùng cá trê vàng. Tôi định trổ tài nhưng ngặt nỗi nước hãy còn ngập dưới chân lúa mênh mông. Từ ngoài đồng xa, có những con mương chi chít dẫn vào vườn. Những con mương ấy gợi cho tôi nghĩ ra cách làm hầm bắt cá. Tôi bơi xuồng chở cái khạp da bò ra ruộng, đặt dưới con mương, lấy đất bùn đắp ngang miệng hầm, vuốt cho thật láng để đón lũ cá trên đồng ruộng đang tìm đường về chốn ao đìa. Cứ vài phút, một con cá lóc, cá rô đi qua, gặp vật cản, chúng nhảy tưng lên và rơi vào cái khạp. Người ta gọi đó là cá nhảy hầm.

Chiều, mặt trời sắp lặn, tôi chở đầy một khoang xuồng cá vô nhà. Mấy chị em trố mắt phục tài sát cá của cái anh chàng dân chợ.

Đêm giao thừa ở bìa rừng U Minh hạ im lặng trôi qua sau một vài tràng pháo chuột. Hai đứa chúng tôi ngồi dưới gốc cây vú sữa già thức canh nồi bánh tét. Một bình trà đậm, một dĩa mứt dừa do cô ấy tự làm từ lúc ban chiều, một gói thuốc gò vấn bằng giấy báo. Bên cạnh có một chiếc võng đan bằng dây chuối mắc qua cành vú sữa. Ban đầu chúng tôi nhường nhau. Rồi hai đứa nằm chung tự lúc nào không biết. Chỉ có vậy thôi. Vậy mà hạnh phúc, vậy mà bình yên, vậy mà ngọt ngào.

Giữa cuộc sống bon chen, một vài ký ức bình dị đôi khi trở thành niềm khát vọng.

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2009

MỘT NHÀ BÁO - MỘT ĐỜI NGƯỜI




Nhà báo Trần Tấn Quốc đọc diễn văn khai mạc giải Thanh Tâm năm 1958







Ngày 25-9-1914, bên bờ sông Đình Trung, làng Mỹ Trà đã sinh ra một nhà báo nổi danh, một ký giả kịch trường gắn liền với sự phát triển của sân khấu cải lương Nam bộ. Đó là nhà báo Trần Tấn Quốc.

Trần Tấn Quốc tên thật là Trần Chí Thành, con cụ Trần Tấn Hưng, một nhà Nho, một thầy thuốc Đông y, đồng thời cũng là nhà yêu nước nổi tiếng ở Cao Lãnh, cùng thời với Lưu Quang Bật, Lê Văn Sao, Nguyễn Quang Diêu.

Thời niên thiếu, từ khi còn là học sinh tiểu học ở Cao Lãnh, Trần Tấn Quốc đã có ước vọng trở thành nhà báo trong tương lai. Ông từng ngưỡng mộ và thán phục nghĩa khí và tài năng làm báo của Nguyễn An Ninh và Diệp Văn Kỳ. Nhưng ước vọng ấy tưởng sẽ không thành vì vừa học xong tiểu học, năm 17 tuổi, ông bị kết án 4 năm tù và bị đày ra Côn Đảo vì tham gia rải truyền đơn chống Pháp. Thay vì bốn năm lên sài Gòn tiếp tục học lấy bằng Thành Chung để đi làm báo thì Trần Tấn Quốc lại ngồi tù Côn Đảo.

Được phóng thích trước thời hạn một năm, nhưng khi ra tù, viên chủ quận Cao Lãnh Lê Văn Giáp bắt ông phải ra đình Thần làng Hòa An để thề với thánh thần rằng từ nay không được làm mất an ninh trật tự, phải tuân hành phép quan luật nước. Và trong một năm án treo ấy, mỗi tuần Trần Tấn Quốc phải lên trình diện với hương quản và mỗi tháng phải lên trình diện với chủ quận một lần.

Một hôm, Trần Tấn Quốc đi xem lễ “14 Juillet”, thấy người Pháp bày những trò chơi làm nhục đồng bào mình như: cạp chảo, đập tĩn, leo cột thoa mỡ bò . . . để lấy tiền, ông nổi máu viết một bài báo gởi lên Sài Gòn để tố cáo “ những trò chơi hạ thấp phẩm cách con người, làm tổn thương truyền thống oai hùng của một dân tộc”. Sau bài báo ấy, viên chủ quận nổi trận lôi đình, ra tuyên bố từ nay cấm Trần Tấn Quốc đến chợ, cấm ra khỏi làng bất cứ lý do gì, và mỗi ngày phải đến trụ sở xã Hòa An ký tên vào sổ hiện diện. Quyết định ấy được gởi cho tất cả cò bót và làng xã để thi hành.

Một đêm tối trời, Trần Tấn Quốc bỏ xứ trốn lên Sài Gòn làm báo. Đêm ấy, mẹ ông và người em của ông dùng chiếc xuồng ba lá, bơi theo con nước ròng, vượt sông Tiền chở ông qua Sa Đéc, để từ đó, ông lên chuyến xe đò sớm nhất đi Sài Gòn.

Một chàng trai 22 tuổi, mới học hết lớp Năm trường làng dám bỏ quê lên Sài Gòn làm báo. Đó là một thử thách lớn lao với Trần Tấn Quốc. Một thử thách mà ông nghĩ rằng không thể nào vượt qua được: đối với một phóng viên lúc bấy giờ, mọi thứ quan hệ để thu thập thông tin thời sự từ cò bót, quan thuế, nhà thương, pháp đình, bộ máy chính quyền, các văn bản tài liệu . . . đều dùng tiếng Pháp, trong khi ông chỉ là một học sinh tiểu học quê mùa, thất cơ lỡ vận. Trần Tấn Quốc đứng trước hai ngõ cụt: Trở về thì chắc chắn bị tù, mà ở lại thì lấy gì để sống ?

May thay, có một người tốt cưu mang ông, đó là giáo sư Đinh Nho Hàng, một thầy giáo dạy Pháp văn ở một trường tư thục.

Trần Tấn Quốc vừa học tiếng Pháp, vừa tập tành làm báo. Ở gần nhà giáo sư Hàng có một nhân viên cảnh sát điều tra, Trần Tấn Quốc làm quen và đi theo những lúc anh ta thi hành công vụ. Ba tháng sau, ông viết được một thiên phóng sự “Bọn móc túi ở Sài Gòn” rồi tự mang đến bán cho ông Nguyễn Phan Long, chủ nhiệm tờ nhật báo Việt Nam, tại số 276 Lagrandìere ( tức đường Lý Tự Trong bây giờ ). Phóng sự ấy được đăng bảy kỳ trên báo Việt nam, Trần Tấn Quốc được trả nhuận bút 20 đồng và được nhận vào làm phóng viên chính thức với mức lương 30 đồng mỗi tháng. Đó là tháng 6 năm 1936, Trần Tấn Quốc vừa tròn 22 tuổi.

Được sự giúp đỡ tận tâm của các bậc nhà báo đàn anh như Nguyễn Phan Long, Nam Đình, Đào Trinh Nhất, Trương Lập Tạo, Hòang Tâm . . . Trần Tấn Quốc say sưa vừa làm vừa học. Ba năm sau, ông đã hòan tất chương trình nghiệp vụ báo chí hệ hàm thụ của trường Universelle ở Paris. Chính trường học nầy đã giúp cho Trần Tấn Quốc một quan niệm rõ rệt về nghề viết báo và trách nhiệm nặng nề của một nhà báo.

Chẳng bao lâu, ông đã trở thành một nhà báo lừng danh giữa đất Sài Gòn.

Con đường mang tên Nam Quốc Cang ở quận Một ngày nay chính là bút danh của ba người đồng nghiệp đã đi vào lịch sử báo chí miền Nam: Nam Đình, Trần Tấn Quốc, Lê Trung Cang ( sau nầy trở thành bút danh của Nguyễn Văn Sinh – một nhà báo đã bị người Pháp ám sát ), những bậc thầy đà từng làm nên các tờ báo: Điển Tín, Tin Điển, Tin Mới, Dư Luận, Việt Thanh, Đuốc Nhà Nam. Ngoài ra, Trần Tấn Quốc còn làm chủ bút và chủ nhiệm các tờ Thần Chung, Công Nhân, Tiếng Dội, Lẽ Sống, Buổi Sáng, Tiếng Dội Miền Nam, Dân Quyền . . .

Trải qua 40 năm làm báo, Trần Tấn Quốc ( với các bút danh: Chí Thành, Trần Chí Thành, Trần Tấn Quốc, Cao Trần Lãnh, Thanh Tâm, Trần Tích Lương, Trần Tử Văn, Thanh Huyền, Anh Thành, Chàng Ba, Nghệ sĩ mù, Cô Hạnh ) đã trải qua bảy chế độ chính trị khác nhau, rất nhiều lần bị đàn áp với nhiều hình thức, nhiều thủ đoạn nhưng ông vẫn tồn tại một cách đàng hoàng và không gia nhập một đảng phái chính trị nào, bởi ông cho rằng, báo chí đối với ông chính là một Đạo.

Năm 1961, nhật báo Tiếng Dội của ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm rút giấy phép “vì lý do chính trị”, ông phải mượn giấy phép của các tờ báo khác để làm. Quá mệt mỏi, ông cuốn gói về quê. Nhưng bảy ngày sau, chính ông Ngô Đình Diệm gởi công điện xuống bảo Trung tá tỉnh trưởng Kiến Phong Đinh Văn Phát tìm cho được Trần Tấn Quốc để mời về Sài Gòn gấp.

Tại Dinh Tổng thống, Ngô Đình Diệm nói với Trần Tấn Quốc: “Tôi mến ông là một nhà báo có tài, tôi quý ông là một cây bút có tiết tháo . . .” . Sau cuộc đàm đạo ấy, đến tháng 5/1961, Trần Tấn Quốc được cấp giấy phép xuất bản tờ nhật báo Tiếng Dội Miền Nam, ông đặt tòa soạn tại tư gia số 216 Gia Long.

Sau vụ đảo chánh Ngô Đình Diệm, Trần Tấn Quốc đổi tên Tiếng Dội Miền Nam thành Dân Quyền, đến ngày 3/7/1965 lại bị chính quyền Nguyễn Cao Kỳ thu hồi giấy phép. Lại buồn chán, ông bán nhà về Cao Lãnh hết hai năm. Cuối năm 1967, Nguyễn Văn Lộc lên làm Thủ tướng, Trần Tấn Quốc được mời lên làm cố vấn về báo chí cho Chính phủ. Sau tết Mậu Thân, ông nghỉ làm cố vấn để tiếp tục làm báo.

Năm 1969, Trần Tấn Quốc ra tờ nhật báo Đuốc Nhà Nam, đối lập chân chính với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Có thể nói đây là tờ báo cực kỳ tử tế và bán chạy nhất ở miền Nam thời kỳ nầy, bị chính quyền tịch thu hai lần vì lý do “dùng luận điệu có lợi cho cộng sản” và “xúi giục người khác xâm phạm an ninh quốc nội”.

Ngày 4/8/1972, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sắc luật 007, buộc mỗi tờ nhật báo phải ký quỹ tại Tổng nha ngân khố 20 triệu đồng ( bằng 500 lượng vàng ). Ngày 3/9/1972, Trần Tấn Quốc ra số báo cuối cùng, trên số báo nầy, ông nói lời tạm biệt với bạn đọc, tuyên bố tự ý đình bản và công kích gay gắt sắc luật 007.

Đầu năm 1973, ông trở lại cộng tác với tờ Điện Tín của Hồng Sơn Đông. Sự có mặt của Trần Tấn Quốc đã làm cho tờ Điện Tín tăng số phát hành đến không ngờ. Điều nầy chứng tỏ uy tín của ông trong lòng độc giả.

Ngày 10/10/1974, người ta thấy Trần Tấn Quốc đi đầu trong đoàn KÝ GIẢ ĂN MÀY, một sự kiện làm chấn động dư luận quốc tế và đi vào lịch sử báo chí Việt Nam. Hai ngày sau, trên báo Điện Tín có bài của ông dưới nhan đề: Lỡ khóc, lỡ cười cho chế độ.

Hoạt động dưới nhiều chế độ chính trị khác nhau, Trần Tấn Quốc không theo một đảng phái chính trị nào, có lẽ chính vì vậy mà ông giữ được khí phách của một nhà báo luôn đứng về phía nhân dân, bản lĩnh và sắc sảo trong lĩnh vực chính trị xã hội, Trần Tấn Quốc còn là một nhà báo có tầm cỡ trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ. Ông là người có sáng kiến mở ra trang kịch trường trên các báo thời ấy, đây là trang báo ăn khách nhất, và là cầu nối giữa công chúng yêu nghệ thuật sân khấu với diễn viên và những người hoạt động sân khấu. Chính trang kịch trường của ông đã khẳng định danh xưng nghệ sĩ, thay cho những từ ngữ mang tính chất khinh miệt như : xướng ca vô loại, thằng kép, con đào, thằng đờn của thời kỳ ấy. Chính trang kịch trường của ông đã góp phần làm trong sạch môi trường sân khấu khi phê phán những cái xấu, tôn vinh cái đẹp, xóa đi những khoảng cách không cần thiết giữa công chúng và nghệ sĩ.

Năm 1958, sau tám năm mở ra trang kịch trường trên các báo, Trần Tấn Quốc sáng lập giải triển vọng Thanh Tâm nhằm phát hiện và tôn vinh tài năng trẻ trên sân khấu cải lương. Thanh Tâm chính là bút danh của ông và phần thưởng nầy cũng từ đồng tiền của ông chắt chiu bằng nghề báo. Hội đồng tuyển chọn gồm những nghệ sĩ , soạn giả nổi tiếng như: Phùng Há, Bảy Nhiêu, Duy Lân, Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu, Điêu Huyền và các ký giả: Trần Tấn Quốc, Ngọc Linh, Nguyễn Ang Ca, Lê Hiền, Phong Vân, Bạch Tùng Hương cùng các luật sư, chính khách, nhân sĩ và khán giả.

Nghệ sĩ đầu tiên chiếm huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1958 là Thanh Nga, tiếp theo là Ngọc Giàu, Lan Chi, Bích Sơn, Hùng Minh, Bạch Tuyết, Diệp Lang, Thanh Sang, Lệ Thủy, Phượng Liên.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, giải Thanh Tâm vẫn còn giá trị và những nghệ sĩ được tôn vinh ấy càng ngày càng sáng giá, càng được công chúng ngưỡng mộ.

Có thể nói, Trần Tấn Quốc là một nhà báo hành trình cùng với sự phát triển của sân khấu cải lương Nam bộ. Năm 1975, khi ông về quê bên sông Đình Trung, Mỹ Trà, Cao Lãnh, sọan giả Viễn Châu gởi tặng ông hai câu đối bằng tất cả tấm lòng:

- Công nhân, Tiếng dội, Buổi sáng, Đuốc Nhà Nam, giải Thanh Tâm gắng sức vun bồi, duyên bút mực, nghiệp báo chương, xếp lại hành trang, đất Cao Lãnh bao dài bao nuối tiếc . . .

- Phùng Há, Năm Châu, Ba Vân, Lê Thị Phỉ, làng ca kịch góp công tô điểm nợ phấn son, tình sân khấu, tàn rồi mộng ước, sông Đình Trung mấy khúc mấy u sầu . . .

Một con người tài hoa nên cũng rất đào hoa nên đường tình của ông cũng lắm nỗi buồn. Năm 17 tuổi, khi đang là tù nhân Côn Đảo thì mối tình đầu của ông lại là một tiểu thư, con của viên giám thị nhà tù – cô Xuân Hoa, con gái ông Quản Thiên – hai người đã từng hẹn hò nhau trên suối Đá Mòn. Nhưng rồi cô gái ấy về đất liền trước khi ông mãn án. Ông đã lặng lẽ xuống bến tiễn đưa khi con tàu nhổ neo và cũng lặng lẽ ở lại chờ mong với thân phận một người tù.

Mối tình thứ hai là bà Bảy Tới, lúc bấy giờ Trần Tấn Quốc đã thành danh nhưng lại bị phụ mẫu cô Bảy Tới từ chối ông vì cái nghề “viết nhựt trình”. Người phụ nữ ấy chính là mẹ của nữ ký giả Kim Mai, phóng viên báo Buổi sáng. Mối tình thứ ba là cô Ba Liên, một chủ tiệm vải lớn ở chợ Thái Bình. Người thứ tư là bà Lê Thị Tuất, mẹ của nghệ sĩ Kiều Mai Lý.Người thứ năm là nghệ sĩ Thanh Loan, diễn viên chính của đoàn Việt kịch Năm Châu, rồi đoàn Thanh Minh-Thanh Nga. Hai người sống với nhau được 10 năm thì chia tay, nghệ sĩ Thanh Loan vào chiến khu, sau năm 1975, bà trở thành đại biểu Quốc hội khóa 6. bà mất năm 1982, thọ 65 tuổi. Người vợ cuối cùng của Trần Tấn Quốc là Thu Tâm, là một đồng hương, từng làm nhân viên cho ông ở báo Tiếng Dội, nhỏ hơn ông 19 tuổi. Hai người sống với nhau được 10 năm thì bà Tâm qua đời vì bạo bệnh, để lại cho ông người con trai tên là Trần Thế Vinh.

Trần Tấn Quốc từ trần ngày 28/4/1987, hỏa táng tại lò thiêu Tân Xuân bằng 15 lít dầu lửa và 3 thước củi xoài của quê nhà.

Ra đi lặng lẽ, âm thầm từ Cao Lãnh và trở về với Cao Lãnh cũng lặng lẽ âm thầm.

Có thể nói, bốn mươi năm làm báo, Trần Tấn Quốc đã để lại cho đồng nghiệp, cho văn nghệ sĩ Sài Gòn một tấm gương sáng, một nhân cách, một tấm lòng và một tính khí nghề nghiệp cao lớn. Những lời tự sự của ông cũng chính là những lời dạy xứng đáng cho những thế hệ làm báo tiếp theo: “ Người làm báo binh vực cho lẽ phải và công bằng một cách hăng say với tinh thần hiệp sĩ, không cần ai kêu gọi, không màng việc oán trả ơn đền. Nơi nào có tiếng thì thầm than thở của dân là có tai của nhà báo ghé vào, nơi nào có sự lộng quyền ỷ thế, là có mắt của nhà báo ngó tới. Nghề làm báo cao cả như vậy, lý tưởng cao sâu của người cầm bút như vậy, há chẳng đáng gọi là một đạo sao ?”

-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2008

HUYỀN THOẠI THẦY RẮN HỔ





Về Cà Mau, nhân một bữa nhậu thịt rắn, tình cờ được nghe những câu chuyện nửa thực nửa hư, đầy chất huyền thọai về những ông thầy rắn hổ chuyên hành hiệp chữa bệnh cứu người. Mặc dù là những câu chuyện mang màu sắc huyền bí nhưng lại là những con người thật, có tên tuổi và địa chỉ hẳn hoi nên tôi quyết định làm một cuộc hành trình tìm kiếm những ông thầy ấy xem hư thực ra sao.

Trước tiên là câu chuyện về ông Bảy Còi, ở ấp Nhà Phấn, xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, cách trung tâm thị xã Cà Mau gần 20 cây số. Người ta kể rằng cách nay mấy năm, có chị Thu Vân chuyên nghề bán rắn ở cầu Mới bị rắn hổ cắn, lúc đang nằm cấp cứu trong bệnh viện, các y bác sĩ bảo người nhà của chị đi rước ông Bảy Còi ra cứu chữa vì bệnh viện không có thuốc đặc trị, chỉ truyền dịch cầm hơi. Lúc ấy người nhà của chị Vân chia nhau đi tìm thầy thuốc rắn, đã rước được hai người, riêng ông Bảy Còi, ban đầu ông từ chối vì cho rằng chị Vân bị rắn cắn vào giờ thọ tử, không cứu được, nhưng người nhà nạn nhân khóc lóc van xin nên ông buộc lòng phải đi. Đến nơi, hai người đồng nghiệp tỏ ra bất lực và cầu cứu ông, ông nhìn dấu răng trên tay nạn nhân rồi lắc đầu nói: “Con rắn nầy có 23 khoang, trên lưng nó có dấu chỉa cách đầu khỏang một gang tay, thuộc lọai rắn hổ mang, cực kỳ độc, hiện giờ nó còn ở trong nhà của người mua, cách nhà chị Vân ba căn về hướng tây”. Gia đình chị Vân cho người đi mua lại con rắn ấy mang vào bệnh viện. Ôg Bảy Còi thò tay vào bao bắt ra, một con rắn giống y như lời ông mô tả. Ôg khẳn định lại một lần nữa là bệnh của chị Vân không cứu được rồi xin lỗi gia chủ ra về. Đúng 10 giờ trưa hôm ấy, chị Vân tắt thở.

Tôi nhờ Nguyễn Tiến Trình, phóng viên báo Thanh Niên thường trú ở Cà Mau chở tôi đi tìm ông Bảy Còi vì được biết mẹ của Trình, chị Tám Thẩm, từng bị rắn hổ cắn sắp chết đã được ông Bảy Còi cứu sống. Trình kể: “ Buổi tối hôm ấy mẹ em đang giặt đồ phía sau nhà thì bất thần bị rắn hổ quặp vào chân. Lúc mượn được xuồng máy chở đi thì mẹ em đang nguy kịch, người co giật và lạnh cóng, đàm trào lên cổ, mắt trắng đờ. Khi ghé nhà ông Bảy Còi thì thấy ông và mấy người hàng xóm đang ngồi nhậu như trong tư thế đợi chờ, xuồng vừa cặp bến thì nghe họ bảo: “Tới rồi kìa !”. Và họ tức tốc xuống khiêng mẹ em lên, cứu sống ngay trong đêm ấy.”

Trên đường đi tôi cứ hình dung ông Bảy Còi là một người rất khác đời, từ cách ăn mặc, tóc râu, diện mạo phải đầy huyền bí như những câu chuyện về ông. Nhưng khi đến nơi, thấy ông ngồi sửa xe gắn máy trước cửa nhà cùng hai đứa con trai, hóa ra ông cũng là một nông dân bình thường như bao nhiêu người khác. Hơn thế nữa, ông còn là một phó công an xã, khá lừng lẫy trong việc trấn áp các tệ nạn cờ bạc, đá gà ở xã Lương Thế Trân. Trên tấm vách lá nhà ông treo nhiều giấy khen, bằng khen của địa phương về thành tích chữa bệnh cứu người, nổi cộm nhất là tấm Huy chương “Vì sự nghiệp nhân đạo” của hội Chữ Thập đỏ Việt Nam. Ông cho biết, cả dòng họ bên nội ông đều làm thầy thuốc rắn, nổi tiếng từ Bến Tre đến Cà Mau. Riêng ông hành nghề từ năm 20 tuổi, đến nay đã 33 năm, bình quân mỗi năm cứu sống khỏang 30 mạng người. Trong hơn 30 năm hành nghề, ông đã từ chối ba ca mà theo ông thì đó là số mạng của những người sanh nghề tử nghiệp, trong đó có chị Vân vừa kể trên.

Tôi hỏi vì sao ông biết con rắn cắn chị Vân có 23 khoang và một vết chỉa trên lưng, cách đầu một gang tay ? Bảy Còi nói rằng đó là do Tổ nghiệp báo trước. Ông giải thích: thông thường, bất kỳ ca bệnh nào Tổ nghiệp cũng báo mộng trước ba ngày để mình không nên đi xa. Ngay cả những ca không cứu được, Tổ cũng báo trước để mình từ chối, sợ mất uy tín nghề nghiệp. Nói về ca bệnh của chị Tám Thẩm, mẹ của Tiến Trình, ông cho rằng đó là một trường hợp đặc biệt trong cuộc đời hành hiệp của ông.

-Xin lỗi nhà báo – ông nói – mình là cán bộ, đảng viên, lại là cán bộ ngành công an mà nói chuyện duy tâm nghe kỳ quá. Hôm ấy Tổ báo mộng rằng có một ca bệnh nặng. Thông thường thì Tổ cho hay có cứu được hoặc không. Nhưng lần nầy ông bảo mình hãy cố gắng, vì nếu như nạn nhân nầy có tích đức của cha ông thì sẽ qua khỏi, bằng không thì sẽ không cứu được. Tôi rất băn khoăn nên tối hôm ấy tôi làm con gà cúng Tổ và mời mấy ông già hàng xóm qua nhậu để giải bày, vì nếu lỡ không cứu được thì cũng có người lớn tuổi cảm thông, chia sẻ với mình. Chúng tôi vừa nhậu lai rai vừa chờ bệnh nhân tới. Khi thấy cặp mắt của chị Tám trắng đục, đàm lên cứng cổ thì tôi nghĩ hết cách rồi. Đổ hết bốn liều thuốc cũng không ăn thua, xài hết bốn chữ bùa cũng không ăn thua. Tôi mệt lã người như bất lực, bèn lên giường nằm nhắm mắt lại, cố nhớ chữ bùa cuối cùng mà cha tôi truyền lại trong cơn hấp hối, nét nhớ nét quên. Tôi ngồi bật dậy, cố họa theo những gì trong trí nhớ. Nhưng không ngờ khi vừa đổ xong, đàm xuống một cái ọt đến nổi ai cũng nghe được. Lúc ấy đã hơn hai giờ sáng, tôi gần như kiệt sức.

Nhìn căn nhà của Bảy Còi trống trơ vách lá, tôi hỏi hình như ai làm thầy rắn hổ cũng nghèo ? Ông nói “không nghèo sao được, xài tòan thuốc quý hiếm mà đã theo nghiệp tổ thì cứu nhơn không được lấy tiền. Ngày xưa cha tôi giỏi đến nổi các ông chủ tiệm thuốc bắc mời ra xem mạch kê toa, vừa hưởng lương vừa hưởng hoa hồng, nhưng ông kiên quyết từ chối. Bây giờ tôi truyền nghề lại cho con tôi cũng thế. Đã theo nghiệp tổ thì phải luôn tu tâm dưỡng tánh, không được vụ lợi,dù có nghèo đến cạp đất ăn cũng phải xem việc cứu người là bổn phận của mình”.

Nhà văn Sơn Nam nói rằng, ngay từ buổi bình minh của lịch sử khẩn hoang miền Nam, dường như tạo hóa đã ban cho mỗi làng xã một bà mụ vườn, một ông thầy lang và một ông thầy rắn hổ để cứu nhơn độ thế. Sự phân bổ nầy không theo địa giới hành chánh mà theo khỏang cách không gian tương ứng với thời gian chuyển bệnh bằng phương tiện xuồng chèo một cách an tòan. Ví dụ như khi bị rắn cắn thì phải tìm thầy gần nhất để cứu kịp trong thời gian một tiếng rưởi đồng hồ.

Anh Năm Rí, trưởng công an huyện U Minh dẫn tôi đến nhà ông Sáu Thuận, 67 tuổi, chuyên trị vùng Nguyễn Phích, Biện Nhị, Khánh Lâm suốt 47 năm qua. Cũng như Bảy Còi, ông Sáu Thuận là một nông dân hiền lành, chất phác, nói năng từ tốn từng câu. Khi khách đến, các con ông cúi đầu chào hỏi, pha trà rồi rút lui làm cho chúng tôi thầm nể phục một gia đình có gia phong nề nếp. Ông sáu Thuận cho biết, cha ông là Phạm Văn Cử, một thầy thuốc rắn nổi tiếng ở vùng nầy. Ông Cử lại là học trò của hai ông Tư Lục và Tám Rớt, hai bậc thầy thuộc hàng cao thủ với nhiều huyền thọai còn truyền lại ở U Minh. Ông Thuận kể rằng Tư Lục ngày xưa xây nò bắt cá khắp các kinh rạch trong vùng nhưng chẳng ai dám trộm cá vì mỗi cái nò ông sai khiến bốn con rắn hổ mây ngày đêm canh giữ. Năm 1945, Tư Lục bị ông H. một cán bộ huyện bắt giam một tuần vì cho rằng ông hành nghề mê tín di đoan. Khi Tư Lục được trả tự do mấy ngày thì ông H. bị rắn cắn, gia đình rước hai ba ông thầy đến chữa nhưng không khỏi, rước Tư Lục thì ông từ chối. Đến khi người ta đóng hòm chuẩn bị liệm ông H. thì Tư Lục tới, ông cầm nhan họa một chữ gì đó lên chỗ vết răng rắn trên chân ông H. và thổi một cái phù, vài phút sau đàm xuống một cái ọt, ông H. sống lại trong sự kinh hãi của dân làng, cuối cùng ông H. đem cái hòm ra đốt bỏ.

Về phần người cha của mình, ông Sáu Thuận cho biết, năm 1960, ông Cử chữa một ca bệnh không thành, ông tuyên bố bỏ nghề và truyền lại cho ông Thuận, bởi vì theo nguyên tắc của nghiệp Tổ, trước mỗi bệnh nhân đều được Tổ báo mộng trước ba ngày, hoặc là từ chối, hoặc là chữa khỏi. Ông Cử nhận chữa nhưng bệnh nhân tử vong, ông cho rằng Tổ không còn độ ông nữa, đành phải giao lại cho con. Trong 47 năm qua, ông Thuận đã cứu chữa cho hàng ngàn người nhưng ông chưa hề nhận của ai một đồng xu, trừ những trường hợp người ta mang gà vịt đến cúng tổ, ông nhận nhưng cũng mời hàng xóm đến nhậu để chung vui, mừng cho bệnh nhân thóat nạn. Ông nói trong 47 năm hành hiệp, ông đã từ chối ba ca theo lệnh tổ, cả ba người ấy đều hành nghề mua bán rắn nên không cứu được. Khi được hỏi về phương pháp điều trị, ông Sáu Thuận bình thản nói:

-Có chú Năm đây là trưởng công an huyện, tôi cũng xin nói thật chẳng giấu giếm điều gì. Cái nghề nầy có sự kết hợp giữa âm dương, giữa duy tâm và duy vật. Ngày xưa tôi trị thuốc là chính, bùa ngãi là phụ. Nhưng sau năm 75, thuốc bắc khan hiếm, thuốc giả tràn ngập thị trường, tôi lên Châu Đốc tìm học cách chữa theo phương pháp duy tâm của một ông thầy Ấn Độ.

Ông Sáu Thuận dẫn chúng tôi sang một gian nhà nhỏ bên cạnh, cửa đóng kín, trong đó có hai bàn thờ trùm vải đỏ, mỗi bàn thờ có một lư hương. Ông nói đây là cái am thờ 12 vị Tổ Lèo. Hàng năm ông cúng Tổ vào ngày mồng ba tháng giêng và mồng năm tháng năm âm lịch.

Anh Năm Rí là người quen biết rất nhiều thầy rắn hổ ở U Minh, kể cả những giai thọai ly kỳ về những ông thầy đã chết. Khi tôi hỏi những chuyện huyền bí về các thầy rắn hổ, như ông sáu Thuận chẳng hạn, Năm Rí cũng trả lời rất thật thà: “ Đúng là khó hiểu, nhưng rõ ràng là họ chỉ làm phước, không lợi dụng mê tín dị đoan để trục lợi”.

Theo anh Năm Rí thì thầy rắn hổ có hai lọai thầy: thầy chữa bệnh và thầy bắt rắn. Thầy bắt rắn thường kiêm luôn nghề chữa bệnh, nhưng cuối đời hầu như tất cả đều chết vì rắn cắn. Còn thầy chữa bệnh tuy vẫn có tài bắt rắn nhưng dường như để tránh hậu quả sanh nghề tử nghiệp, họ không lấy việc săn bắt rắn để mưu sinh.

Anh Sáu Nguyên, một thầy rắn hổ còn khá trẻ ở Rạch Dinh, con trai thầy Tư Biên một thời nổi tiếng ở U Minh cho biết, cha anh dạy nghề cho anh nhưng cấm anh bắt rắn, mặc dù rắn hổ gặp anh phải cúi đầu. Có lần Sáu Nguyên đi tàu đò ra Cà Mau, dọc đường, bao rắn của một hành khách bị sút dây, những con rắn hổ bò ra, phùng mang làm cho hành khách trên tàu hốt hỏang đổ dồn về phía sau. Thấy tàu sắp chìm, Sáu Nguyên ra hiệu cho bà con bình tĩnh rồi bước tới bao rắn, những con rắn đang hung hãn bỗng dưng cúi đầu nằm co lại. Sáu Nguyên bắt từng con bỏ vô bao rồi cột miệng trả lại sự an tòan.

Ở U Minh hầu như ai cũng biết câu chuyện thầy Năm Ngọc có tài đến mức điều khiển rắn đi cắn người khác. Nhưng chính Sáu Nguyên là người xác nhận câu chuyện ấy vì Năm Ngọc là thầy của cha anh. Sáu Nguyên nói Năm Ngọc nổi tiếng cả hai lĩnh vực chữa bệnh rắn cắn và bắt rắn. Hàng năm, sau ngày cúng tổ ( Mồng 5 tháng 5 âm lịch ), Năm Ngọc cho hay năm nay ông tiếp bao nhiêu bệnh nhân và chữa được mấy người, còn mấy người tử nạn. Trong nghề bắt rắn, Năm Ngọc không cần đào hang mà chỉ cần vỗ nhẹ vào miệng hang thì lập tức rắn hổ bò ra nộp mạng cho ông. Hồi nhỏ, Sáu Nguyên từng theo làm học trò Năm Ngọc nhưng cha anh không cho vì hai lẽ: thứ nhất là cấm anh không được bắt rắn để mưu sinh, thứ hai, năm Ngọc từng mang tai tiếng dùng nghề nghiệp để hại người. Sáu Nguyên kể, hồi năm 1970, Năm Ngọc đã làm một chuyện để đời cho đến bây giờ: Ông bị kẻ trộm lấy hai con cá ngát, tức giận ông tuyên bố: “Thằng nào ăn cá của tao phải trả lại con heo”. Mấy hôm sau anh M. ở đầu kinh bị rắn hổ cắn. Hai người học trò của Năm Ngọc chữa không được, bèn rước Năm Ngọc đến cầu cứu. Năm Ngọc bảo phải vái con heo và phải trả lễ đúng ba ngày sau khi hết bệnh. Gia đình nạn nhân làm theo. Khi M tĩnh dậy, Năm Ngọc ra lệnh: “Mầy phải quỳ xuống thề độc là từ nay về sau không được ăn cắp trái cà trái ớt, con cá cọng rau của ai thì tao mới bảo đảm sinh mạng cho mầy”. M. quỳ xuống, mặt không còn chút máu. Ba ngày sau anh đi mua con heo mang qua cúng tổ tại nhà Năm Ngọc. Ông Tư Biên – cha của Sáu Nguyên – lấy làm thắc mắc bèn bỏ mấy ngày ra điều tra xem anh M có lấy trộm cá của Năm Ngọc hay không. Cuối cùng, một người ở kinh Hàng Gòn xác nhận có mua của M một con cá ngát nặng hơn hai kg và thấy M mang về một con.

Từ đó cả vùng U Minh không ai dám làm mất lòng ông Năm Ngọc. Về già, ông bị tâm thần và chết thảm hại trong ngôi miếu hoang.

Nói về ông Tám Rớt, thầy của cha mình, Sáu Nguyên kể: Tám Rớt là một người lang bạt không nhà, một thân một mình với chiếc xuồng và cái thùng đựng rắn. Ông thường tá túc ở nhà của những học trò ruột của mình, mà chủ yếu là nhà Tư Biên – tức cha của Sáu Nguyên. Thuở ấy, Sáu Nguyên mới 15 tuổi. Một hôm, Tám Rớt và Tư Biên đang ngồi uống trà, bổng Tám Rớt gọi Sáu Nguyên đến bảo anh đi rửa thùng rắn hổ. Sáu Nguyên chết điếng người khi nhìn thấy trong thùng hàng trăm con rắn đang phùng mang trong tư thế tấn công. Tám Rớt bảo anh cứ bắt hết rắn thả ra sân rồi múc nước rửa thùng. Đang muốn học nghề và biết ông thầy đang thử thách lòng dũng cảm của mình, Sáu Nguyên đánh liều làm theo. Nhưng anh ngạc nhiên khi Tám Rớt ho một tiếng thì những con rắn hổ đang phùng mang ấy bổng cúi đầu ngoan ngõan. Khi anh bắt chúng thả ra sân, những con rắn lại phùng mang và bò đi tứ phía, Tám Rớt lại ho một tiếng, chúng liền mọp xuống, co mình nằm khoanh một chỗ. Cứ thế, Sáu Nguyên hốt sạch hàng trăm con rắn trong thùng thả ra sân, rửa thùng xong, anh lại hốt chúng bỏ vào. Những con rắn cứ hiền lành như dây chuối.

Như để chứng tỏ tài nghệ của mình, chiều chiều Tám Rớt thường bắt con rắn hổ quấn lên cổ và dẫn Sáu Nguyên đi chơi trong xóm. Lúc trà dư tửu hậu, ông bảo con rắn bò lên mình bất cứ người nào mà ông muốn. Rồi có một ngày, Tám Rớt bơi xuồng về nhà Tư Biên trong tư thế rã rời, mặt mày tái nhợt. Biết chuyện gì đã xảy ra, Tư Biên thắp nhang lên bàn thờ Tổ và bảo Sáu Nguyên đi rước thêm một ông thầy trong xóm nhưng Tám Rớt bảo: “ Khỏi chữa, hết thời rồi ! Chính nó, chính con rắn chúa trong miễu mà tôi từng sợ nhất nhưng vẫn không thóat khỏi nó”.

Sáu Nguyên tổng kết rằng hầu hết những người sống bằng nghề bắt rắn và mua bán rắn khi về già tâm trí không bình thường, kẻ thì nát rượu, người thì lảm nhảm như điên, và cuối cùng đa số họ chết vì rắn hổ chúa.

Tôi gặp thầy Ba Ớt ở ấp 4 xã Khánh Lâm, tuy mới 50 tuổi nhưng trông anh già khọm, giọng nói khàn khàn, người lúc nào cũng ngà ngà say. Ba Ớt cho biết, lúc đi bộ đội ở biên giới Tây Nam, anh học nghề bắt rắn của một ông lão người Chăm, khi xuất ngũ về quê, anh sống bằng nghề bắt rắn cho đến bây giờ. Vào những năm 80, rừng U Minh còn mù mịt, Ba Ớt bắt một ngày hàng trăm ký rắn. Hỏi có bí quyết gì, Ba Ớt nói anh không có khả năng vỗ miệng hang cho rắn bò ra như Năm Ngọc và Tám Rớt, chỉ có điều rắn hổ gặp anh là phải cúi đầu nằm im một chỗ. Anh chìa hai bàn tay cho chúng tôi xem, hai bàn tay sần sùi như da cóc, anh nói đã bị rắn hổ cắn hơn mười lần nhưng chẳng ăn thua gì. Hỏi khi bị rắn cắn thì chữa bằng cách nào, Ba Ớt nói: “ Nếu là rắn hổ mây thì hái đọt mây nhai với phèn chua, nuốt nước, lấy xác đắp lên vết cắn. Còn rắn hổ đất thì quay lưng lại, bước đúng bảy bước, lấy bất kỳ cỏ gì có thể lấy được, cũng nhai, nuốt nước, lấy xác đắp lên, nhưng phải nút máu bầm chỗ vết cắn”. Ngừng một lát, Ba Ớt nói tiếp: “ Nói gì thì nói nhưng tại mình chưa tới số thôi, trước sau gì tôi cũng gặp con rắn chúa. Sanh nghề tử nghiệp mà !”

Hỏi về sự huyền bí trong nghề, Ba Ớt nói rằng trước khi đi phải thắp nhang trước bàn thờ Tổ và vái: “ Xin ba mươi sáu vị lục Tổ, chúa sơn lâm, rừng, thần sơn, thần đất . . . cho tôi đi xóm”.

Chúng tôi định mang những câu chuyện đầy màu sắc huyền bí ở U Minh về đối chiếu với trại rắn Đồng Tâm – Mỹ Tho, một trung tâm nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các lòai rắn độc có một không hai ở Việt Nam mà người sáng lập nó là một thầy rắn hổ nổi tiếng ở miền tây nam bộ: Đại tá, bác sĩ quân y Trần Văn Dược. Nhưng ông Tư Dược đã qua đời cách nay 17 năm, những huyền thọai về ông cũng đã kết thúc khi khoa học kỹ thuật và nhiều công trình nghiên cứu đã được ứng dụng từ trại rắn nầy.

Thượng tá Nguyễn Quang Khải, phó giám đốc trại rắn cũng kể một cách mập mờ về ông Tư Dược: “ Nghe nói ngày xưa, chú Tư được một ông thầy Ấn Độ dạy nghề điều khiển rắn và chữa rắn cắn bằng những phương pháp gia truyền, nhưng kể từ khi trở thành bác sĩ và xây dựng trại rắn nầy, ông hướng công việc chăn nuôi và chữa rắn cắn thành các đề tài khoa học, những huyền thọai lần lượt mất đi”.

Trước cổng trại rắn Đồng Tâm là một trung tâm cấp cứu và điều trị các bệnh do rắn độc. Bình quân mỗi năm tiếp nhận khỏang 500 bệnh nhân ở các vùng lân cận. Thiếu tá bác sĩ Phan Văn Phát, phó giám đốc trung tâm giải thích: Khi bị rắn độc cắn, nọc rắn theo đường máu của bệnh nhân, tác động đến thần kinh trung ương, tăng tiết đàm giải mà dân gian thường gọi là trào đờm, sau đó bệnh nhân sẽ bị cứng hàm, sụp mi mắt, trong vòng 90 phút thì tắt đường hô hấp. Những năm trước đây, tỷ lệ tử vong tại trung tâm cấp cứu rất cao vì dùng thuốc gia truyền, tác dụng chậm nên không cứu được những bệnh nhân vận chuyển đường xa. Từ năm 2001 đến nay, trại rắn Đồng Tâm kết hợp với viện Pastuer Nha Trang nghiên cứu thành công việc dùng nọc rắn hổ với máu ngựa để bào chế ra lọai vacxin tiêm trực tiếp vào mạch máu của bệnh nhân. Kết quả nầy đã giảm tối đa tỷ lệ tử vong tại trung tâm cấp cứu, nếu bệnh nhân chưa tắt thở trước khi vào cổng.Bác sĩ Phát cũng cho biết thêm, giá của mỗi liều thuốc như vậy là hai trăm ngàn đồng, mỗi bệnh nhân phải được tiêm từ 5 đến 20 liều tùy theo nọc độc của mỗi lọai rắn. Tuy nhiên, so với các phương pháp điều trị dân gian thì lọai vacxin nầy không ngăn được sự họai tử ở vết thương nên bệnh nhân phải vá da. Song, cho dù phải tốn kém thời gian và chi phí đến đâu cũng không thể so sánh với một mạng người. Chỉ có điều, vì những lý do nào đó mà lọai vacxin quý hiếm nầy chỉ cung cấp cho bệnh viện Chợ Rẫy và trại rắn Đồng Tâm thì những miền quê xa xôi vẫn chưa kết thúc những huyền thọai bí ẩn về những thầy rắn hổ.

Chúng tôi ghi lại những câu chuyện nầy một cách tự nhiên – cái tự nhiên vốn có như huyền thọai. Không cổ súy, cũng không bài bác. Biết nói thế nào được khi cuộc sống cứ luôn tồn tại những điều bí ẩn.


-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2008

NỮ HOÀNG ÁO BÀ BA





Bà Trần Tố Linh năm 18 tuổi



Bà quả phụ Trần Tố Linh, vợ của nhạc sĩ Trần Kiết Tường, năm nay đã hơn tám mươi tuổi nhưng trí nhớ vẫn còn minh mẫn, gương mặt và nụ cười đầy phúc hậu. Tiếp chúng tôi trong căn nhà mặt tiền đường Võ Thị Sáu, trong tiếng xe cộ ồn ào và tiếng còi inh ỏi liên tục của những đoàn xe tải nối đuôi nhau trước ngã tư đèn đỏ nhưng vẫn không làm át đi giọng nói rành mạch và khoẻ khoắn của bà trong câu chuyện kể về chiếc áo bà ba.

Bà vốn là Việt kiều Campuchia nhưng được sinh ra, lớn lên và sống nhiều năm bên bờ tây sông Hậu. Dù bà không kể về thời con gái của mình nhưng bức ảnh bà chụp hồi năm mười tám tuổi đã chứng minh cho một vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà và quý phái chẳng thua kém gì một nàng hoa hậu. Bà kể rằng, nhạc sĩ Trần Kiết Tường ngày xưa cũng rất hào hoa, phong nhã. Vào khoảng đầu năm 1940, sau khi đậu tú tài Pháp, ông sang Campuchia dạy Pháp văn ở một trường tư thục. Lúc bấy giờ bà cũng đang học may ở Nông-Pênh. Trai tài gái sắc gặp nhau và yêu nhau trên đất khách. Sau Cách mạng tháng Tám, ông Tường nói với bà rằng chúng ta cần phải làm một việc gì đó cho quê hương, bà cũng cảm thấy điều đó đúng. Vậy là đôi tình nhân trẻ dắt nhau xuống tàu, xuôi theo dòng sông Hậu về quê tham gia kháng chiến.

Bà Linh nói rằng chẳng hiểu sao hồi ấy bà chỉ thích mặc áo bà ba, ngay cả khi làm lễ cưới với nhạc sĩ Trần Kiết Tường, bà cũng chọn chiếc áo bà ba làm áo cưới.

Hồi ấy, khoảng giữa đầu thế kỷ hai mươi, chiếc áo bà ba đã thịnh hành ở nam bộ cả thành thị lẫn nông thôn, cả nam giới và nữ giới. Theo bà Tố Linh thì nó có mặt ở miền Nam từ cuối thế kỷ mười chín, do những thuyền viên người Bà Ba ở Mã Lai du nhập vào. Ban đầu, nó chỉ được dùng trong lao động, sau đó được các thợ may ở Sài Gòn lục tỉnh cải tiến dần để trở thành một thứ trang phục sang trọng, làm tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ miền Nam.

Hồi ấy, hầu như tất cả những người con gái Nam bộ đều biết may áo bà ba để tự may áo cho mình. Không có máy thì họ may bằng kim tay. Những người mẹ có con trai đến tuổi lấy vợ, trong các đám tiệc, các bà thường hay để ý đến những cô gái có mặt, vì những cô gái ấy luôn luôn mặc chiếc áo bà ba đẹp nhất do chính tay mình may, để xem từng đường kim mối chỉ, từng đường ráp có mịn màng, khéo léo hay không. Bởi đó chính là tiêu chuẩn đầu tiên để lựa chọn một cô dâu, là chữ công trong bốn đức tính truyền thống của người con gái. Tuy nhiên, theo bà Tố Linh, mặc dù thời bấy giờ cô gái nào cũng có thể tự may được áo bà ba, nhưng để may được một chiếc áo đẹp, vừa tạo được cái duyên ngầm, vừa kín đáo lại vừa làm nổi bật lên những đường nét thanh tú trên cơ thể người con gái là chuyện không phải dễ dàng, không phải ai cũng làm được dù là thợ may chuyên nghiệp. Bản thân bà dù được học may ở Nông-Pênh bốn tháng nhưng chỉ học may đồ Tây nên chẳng áp dụng được một chút kinh nghiệm nào trong việc may áo bà ba. Nhưng có lẽ nhờ vào sự đam mê và dày công nghiên cứu, khi theo chồng vào chiến khu, bà đã may được nhiều chiếc áo đẹp cho chị em đồng đội. Người ta nói chiếc áo bà may đã làm cho người mập trở nên thon và người ốm trở nên tròn. Thế là chẳng bao lâu, bà được nhiều người mến mộ. Khi đến bất cứ nơi đâu thì trước tiên bà là người mặc áo bà ba đẹp nhất, và khi ở lại thì bà là người làm đẹp cho phụ nữ trong vùng với chiếc áo bà ba.

Có lẽ đó là một ấn tượng khắc sâu trong lòng nhạc sĩ Trần Kiết Tường để rồi những năm sau ngày đi tập kết, một trong những bản nhạc đầu tiên của ông viết giữa lòng thủ đô Hà Nội là bài Chiếc áo bà ba.

Trời thanh thanh nắng trưa êm đềm. Hồ Gươm vui sắc hoa xinh thắm.ngời ánh nắng áo tím áo xanh. Thoáng qua, thoáng qua, thoáng qua kìa áo bà ba. Tôi nhớ ai bên dòng nước xanh. Người áo trắng đi bên hàng dừa. Người yêu tôi mong chờ. . . Còn trông theo phất phơ chiếc áo. Nhìn chéo áo tôi nhớ thương ai. Nhớ thương, nhớ thương, nhớ thương người ở miền Nam.

Năm 1957, một đêm mưa bên bờ tây sông Hậu, trong vùng kềm của ấp chiến lược, trong nỗi nhớ chồng day dứt của người vợ trẻ bên hai đứa con thơ. Bà Trần Tố Linh mở chiếc radio nghe lén chương trình văn nghệ của đài Tiếng nói Việt Nam. Bất giác, chiếc radio phát ra bản nhạc Chiếc áo bà ba của nhạc sĩ Trần Kiết Tường – chồng bà – Bài hát với từng chữ, từng lời, từng âm điệu thiết tha đã làm cho lòng bà xôn xao, như nửa mê nửa tỉnh, như ông đang thì thầm tâm sự rằng ông đang khắc khoải từng phút từng giờ với hình bóng quê hương, với người vợ trẻ trong chiếc áo bà ba dịu dàng, phất phơ soi bên dòng sông Hậu.

Trong đêm mưa ấy, bà Linh đã thao thức trắng đêm để đi đến một quyết định táo bạo là: Tìm đường vượt tuyến ra miền Bắc để được đoàn tựu với chồng.

Suy đi tính lại, bà biết rằng không thể vượt qua vĩ tuyến 17 bằng bất cứ con đường nào dù công khai hay bí mật. Vốn là Việt Kiều campuchia, cho nên, bằng một con đường thân nhân, bà đi thẳng qua Nông-Pênh với ý định từ đó sẽ băng rừng vượt núi sang Lào để đi vòng qua Nghệ An. Năm ấy bà chưa đầy ba mươi tuổi, lại phải tay xách nách mang hai đứa con, một bé gái lên sáu và một bé trai mới lên bốn tuổi.

Gần một năm trời ở Nông-Pênh, bà phải bươn chải để nuôi con, nuôi mình và nuôi niềm hy vọng. Có một điều bà không thể ngờ rằng những ngày tháng ở đây, bà được gặp thêm mười hai người phụ nữ cùng cảnh ngộ với bà. Đó là những người phụ nữ miền Tây bị chính quyền Sài Gòn đàn áp, buộc phải ký tên ly dị với người chồng tập kết, họ đã trốn sang campuchia để tìm đường ra Bắc, trong đó có bà Dương Thanh Cầm dẫn theo đứa con gái lên năm tuổi ( tức chị Nguyễn Thế Thanh, phó giám đốc sở VHTT TP HCM bây giờ ).

Mười ba người chinh phụ ấy hợp lại và kiên quyết vượt rừng Lào. Nhưng con đường trên đất nước Lào là con đường đầy hiểm trở: Núi cao, rừng sâu, thác dữ, thú dữ, muỗi vắt như mưa. Nhưng họ vẫn cứ đi mà không hề nao núng. Sau mười ngày bằng rừng, họ đi lạc vào một khu vực cấm của quân đội Lào nên đành quay trở lại đất Campuchia.

Trong lúc đang tuyệt vọng thì vận may lại đến : Năm 1958, chính phủ Hoàng gia Campuchia ký Hiệp định ban giao với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Bà cùng với các chị em kéo đến sứ quán của ta ở Nông-Pênh để trình bày hoàn cảnh và nguyện vọng. Thế là, trên chuyến phi cơ đầu tiên mở đường bay từ Nông-Pênh sang Hà Nội đã chở nặng nỗi nhớ chồng của mười ba người phụ nữ miền Nam.

Ơ Hà Nội, bà Trần Tố Linh cũng chỉ mặc duy nhất một kiểu áo bà ba. Chính hình ảnh ấy, vẻ đẹp ấy đã lý giải với mọi người xung quanh về nguồn cảm hứng sáng tạo cho bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Kiết Tường: Chiếc áo bà ba.

Có thể nói, Hà Nội lúc bấy giờ chưa ai biết đến chiếc áo bà ba, ngọai trừ một vài phụ nữ miền Nam tập kết. Nhưng những chiếc áo tự may nầy cũng chưa tạo nên ấn tượng. Cho nên, sự xuất hiện của bà Tố Linh trong chiếc áo bà ba cùng với bài hát của nhạc sĩ trần Kiết Tường đã làm cho kiểu áo bà ba trở nên sáng giá. Người ta cảm nhận ở đó một vẻ đẹp vừa bình dị, vừa sang trọng, vừa kín đáo lại vừa hấp dẫn, một sự gợi cảm ngấm ngầm từ những đường cong trên cơ thể người phụ nữ mà không thể tìm thấy ở bất kỳ kiểu áo nào.

Như một sự vô tình, bà bỗng dưng trở thành người mẫu và cũng là người thợ đầu tiên may áo bà ba trên đất Bắc. Trong căn nhà số 27, phố Phan Bội Châu nơi bà ở, đầu tiên là những người phụ nữ miền Nam quen thân đến nhờ bà may giúp, rồi tiếp đến là những khách hàng người Hà Nội. Chẳng bao lâu bà trở thành nổi tiếng. Để tạo điều kiện cho bà làm việc, Ban Thống nhất Trung ương mở một cửa hàng may mặc Sài Thành ở phố Phủ Doãn để gây quỹ nuôi những thương binh loại nặng của miền Nam và bà Linh làm nhiệm vụ chuyên cắt may áo bà ba.

Có thể nói từ đó, từ hình ảnh của chính bà và bàn tay khéo léo của bà, chiếc áo bà ba đã xuất hiện trên đường phố Hà Nội rồi tăng lên theo cấp số nhân, lan rộng đến các vùng nông thôn miền Bắc như một làn gió mới làm thay đổi hình ảnh vốn quen thuộc của chiếc áo tứ thân. Mặc dù trong bối cảnh đất nước vừa bị chia cắt, nghèo nàn và chiến tranh, không mấy ai quan tâm đến thời trang nhưng chiếc áo bà ba vẫn được tôn vinh trên đất Bắc.

Rồi tiếp theo, những đoàn phim Chung Một Dòng Sông, Vĩ Tuyến Mười Bảy Ngày Và Đêm, Chị Tư Hậu, Nổi Gió . . . đoàn Văn Công Nam Bộ cũng mời bà may trang phục áo bà ba. Những Trà Giang, Phi Nga qua chiếc áo bà ba đã làm nổi bật tính cách của người phụ nữ miền Nam. Rồi đến bà Nguyễn Thị Bình, bà Đổ Duy Liên . . . những chính khách của Chính phủ Cách mạng lâm thời đi hội nghị nước ngoài, những đoàn văn công miền Bắc giả dạng miền Nam đi biểu diễn ở nước ngoài cũng đều giao nhiệm vụ cho bà Trần Tố Linh may áo bà ba.

Sau năm 1975, về sống ở sài Gòn, bà tiếp tục mở cửa hàng may áo bà ba cho đến ngày nghỉ hưu.

Trong những tập ảnh lưu niệm của bà Trần Tố Linh, từ thời con gái cho đến ngày tiễn chồng đi tập kết, những năm tháng sống giữa thủ đô Hà Nội, những năm tháng về Nam, cùng chồng đi khắp các vùng từ thành thị đến nông thôn, bà chỉ mặc duy nhất một kiểu áo bà ba.

Ta lại nghe những lời ca của anh Trần Thanh Bình – con trai bà Tố Linh - qua giọng ca Minh Cảnh mà cứ ngỡ như những tâm sự của nhạc sĩ Trần Kiết Tường:

-Phải chăng em từ tấm áo dạng dày bình dị nầy đây, em đã giữ lại cho anh tấm tình chung thủy. Giữ cho nhau câu thề ước hẹn, đám cưới nghèo sính lễ áo bà ba . . .

Nam bộ trãi qua một tiến trình phát triển rực rỡ của thời trang, nhưng chiếc áo bà ba vẫn luôn luôn tồn tại.

Chúng ta đã từng tổ chức những cuộc thi hoa hậu áo dài, thiết nghĩ cũng cần có những cuộc thi hoa hậu áo bà ba để tôn vinh một loại trang phục như nó đã từng tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.


PC:Bà Tố Linh qua đời cách nay hơn sáu tháng.


-->đọc tiếp...