Thứ Năm, 18 tháng 12, 2008

LƯU BÌNH - DƯƠNG LỄ THỜI SỐ HÓA




Hồi kháng chiến chống Mỹ, Lưu Bình làm du kích ấp ở Xẻo Lá, tuy không mấy thông minh nhưng nhờ có máu liều, chuyên đánh thế đội đầu đối phương nên thỉnh thoảng cũng lập được chiến công. Dương Lễ thi rớt tú tài, sợ đi lính nên tìm về quê lẩn trốn. Gặp Lưu Bình trong một trận đá gà, hai người kết nghĩa đệ huynh, có lấy kim chích máu ăn thề hẳn hoi, cả ấp Xẻo Lá ai cũng biết.

Dương Lễ có nhiều tài vặt, nhất là trong lãnh vực điện tử như sửa radio, ráp ampli làm máy truyền thanh nên dễ gây cảm tình với vùng kháng chiến, chẳng bao lâu, gã được rút vào chiến khu phụ trách công tác chuyên môn. Gọi là chuyên môn nhưng thật ra Dương Lễ chỉ làm mỗi việc sửa chữa radio cho lãnh đạo nghe đài. Công việc nhàn hạ nhưng lại quen biết với nhiều vị lãnh đạo cấp trên, bất kỳ radio của cấp trên bị hư hỏng thì dù bất kể ngày đêm, đường xá xa xôi cách mấy Dương Lễ cũng có mặt kịp thời.

Nhờ vậy mà sau giải phóng, Dương Lễ lập tức được bổ nhiệm chức giám đốc đài phát thanh, rồi dần dà ôm luôn cái đài truyền hình của tỉnh. Lễ là người có năng lực trong việc chăm sóc cho lãnh đạo cả vật chất lẫn tinh thần, từ tivi, đầu VCD hiện đại đến các chương trình giải trí, các loại . . . phim.

Khi đài phát thanh truyền hình của tỉnh được trang bị hiện đại đến mức . . . không còn gì để trang bị thêm thì Lễ thấy rằng cần phải giao cho người khác quản lý để Lễ chuyển sang đầu tư cho lãnh vực công nghệ thông tin.

Xét thấy Lễ có tài năng nên lãnh đạo giao cho Lễ lập dự án tin học hóa tỉnh nhà. Chẳng bao lâu, nhà của vị lãnh đạo nào cũng được Lễ đầu tư một máy tính để . . . trùm lên một loại khăn sang trọng.

Lễ trở thành nhân vật nổi tiếng hiện đại hóa . . . mọi thứ ở tỉnh nhà.

Phần Lưu Bình, do bệnh thành tích trong kháng chiến mà người ta hay gọi là bệnh công thần nên tỏ ra huênh hoang, hách dịch, lại thêm tật mê đá gà, rượu chè be bét. Vừa lên chức xã đội trưởng thì Lưu Bình bị đuổi việc vì mắc phải tội dâm ô, bị vợ con hành hạ, xóm làng miệt thị cộng với mùa màng thất bát liên miên, lúa khoai rớt giá, Lưu Bình trở thành tay nát rượu, chán đời.

Một hôm, tình cờ thấy Dương Lễ xuất hiện trên tivi, Lưu Bình bèn nhảy xuống tàu đò đi tìm bạn. Đến nơi, bảo vệ không cho vào cổng. Lưu Bình đứng bên ngoài gào thét. Dương Lễ bước ra dõng dạc tuyên bố:

-Ta không quen biết Lưu Bình nào cả, nếu ngươi có giỏi thì hãy học dzi tính đi rồi lên mạng chát với ta,đừng có ở đây lải nhải. Thời đại tin học, không ai nói chuyện bằng lời.

Lưu Bình căm giận đến tím ruột bầm gan, lủi thủi ra đi mà vừa khóc vừa thèm rượu.

Gã đi được một đoạn thì thấy chiếc mercedes chạy tới chặn đường, một cô gái mặc . . . quần lỡ, áo dây, đầu hai ba thứ tóc nhuộm mở cửa xe bước xuống nhẹ nhàng nắm tay gã và nhỏ nhẹ nói:

-Em chào Lưu Bình công tử !

-Nàng là ai mà gọi ta bằng công tử ? Ta chỉ là gã ăn mày.

-Em là Châu Long, là kế toán trưởng công ty Matimex của Dương Lễ.

-Vậy thì nàng hãy tránh ra !

-Không, mời chàng lên xe, em có chuyện cần nói.

Châu Long đưa Lưu Bình đến một khách sạn sang trọng. Nàng lấy ra bộ quần áo mới bảo Lưu Bình tắm rửa. Lưu Bình tuy ngạc nhiên nhưng ngoan ngoãn làm theo. Xong, nàng vừa khui chai chivas vừa bắt đầu tâm sự:

-Em vừa là kế toán trưởng, vừa là bồ nhí của Dương Lễ. Nhưng bây giờ hắn đã phản bội em, hắn mê con thư ký.

-Vậy nàng tính sao ?

-Hắn cũng phản bội chàng, cho nên em muốn hợp tác với chàng để trả thù.

Lưu Bình trố mắt:

-Trả thù ?

-Vâng. Đây là số vàng và đô-la mà em tích lũy trong thời gian sống chung với hắn. Chàng hãy cầm lấy. Còn đây là hộp OK, chàng cũng cầm để mà dùng khi hữu sự. Chúng ta sẽ đến một chân trời xa lạ để lập nghiệp, xây tổ uyên ương và lập mưu tính kế để trả thù.

Lưu Bình ôm chầm lấy Châu Long mà khóc rống lên như trẻ con. Châu Long bình tĩnh nói tiếp:

-Em sẽ lo cho chàng lấy bằng đại học để trở về trả thù Dương Lễ.

Lưu Bình hốt hoảng:

-Trời ơi ! Cái gì thì ta làm được, còn cái bằng đại học thì vô phương ! Hồi nhỏ ta chỉ biết mê đá gà chớ có học hành gì đâu.

-Không có gì khó cả, thậm chí chàng có thể lấy bằng Tiến sĩ, nếu cần.

Sáng hôm sau, Châu Long lái xe chở Lưu Bình đến một thành phố khác. Ở đó nàng mở nhà hàng karaoke kiêm tắm hơi và vật lý trị liệu ( thiên hạ đồn nói Châu Long mở quán gấm đầu làng là sai sự thật, tác giả có đến đó hát và mat-xa hẳn hoi ). Lưu Bình lúc nầy tỏ ra phong độ khác thường. Mỗi tuần ba ngày, chàng đến trung tâm giáo dục thường xuyên để học lớp cử nhân quản trị kinh doanh, hệ tại chức. Buổi tối, chàng đến trung tâm tin học để học các chương trình căn bản. Đêm về, chàng thực hành trên . . . máy, cả phần cứng, phần mềm. Thỉnh thoảng, chàng cùng Châu Long lên mạng, vào trang web play boy.com để xem . . . thời sự.

Thời gian trôi qua cũng nhanh, chỉ mới hết vài hộp OK thì chàng đã công thành danh toại.

Nhưng lạ thay, hôm chàng đi lấy bằng cử nhân trở về thì nhà hàng Châu Long đã biến đi đâu mất, thay vào đó là tấm bảng tổ bố ghi tên công ty trách nhiệm hữu hạn tin học LƯU BÌNH. Rất đỗi ngạc nhiên, chàng bước vào thì có mấy em mặc áo hai dây lễ phép khoanh tay “ chào sếp”. Chàng chạy thẳng lên lầu, cửa phòng vẫn mở nhưng Châu Long đâu không thấy, chỉ thấy một phong bì đỏ rất to. Chàng vội mở ra xem. Một tờ giấy phép thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn đứng tên chàng. Mấy dòng chữ của Châu Long ghi địa chỉ mail chaulong@yahoo.com và hẹn giờ lên mạng chat.

Không hiểu gì cả. Nhưng đúng giờ, chàng cũng mở mạng thử xem.

-Lưu Bình đây, Châu Long nàng đang ở đâu, nàng làm cái trò gì mà kỳ cục zdậy ?

-Kính chào Lưu huynh, hiền đệ đây, Dương Lễ đây !

-Nhà ngươi . . .

-Đừng ngạc nhiên, Lưu huynh còn nhớ hôm ấy khi đuổi huynh ra khỏi cổng, đệ có bảo rằng huynh hãy đi học dzi tính đi rồi lên mạng chat với đệ, bây giờ thì huynh thành công rồi ( thiên hạ đồn rằng Dương Lễ bố thí cho Lưu Bình trái cà thiu và tô cơm hẩm là sai sự thật, vụ nầy có Châu Long làm chứng ).

-Nhà ngươi . . . Thế còn Châu Long của ta ?

-Châu Long là vợ của hiền đệ, là em dâu của Lưu huynh. Cô ấy vâng lệnh em mở quán bia ôm để lo cho hiền huynh ăn học.

-Trời ơi ! Nhưng mà ta đã lỡ . . .

-Em biết rồi, Lưu huynh đừng lo. Thời số hóa mà, nàng cũng giống như phần mềm ứng dụng vậy thôi, bị virus thì ta có chương trình để diệt, bị lỗi thì ta cài lại phần mềm khác, lỗi nhiều nữa thì ta cài lại windows, có sao đâu ( thiên hạ đồn Châu Long từng nói với Lưu Bình rằng Chàng chưa thi đỗ thì chưa động phòng là sai sự thật, bằng chứng là mấy hộp OK ).

-Ta vẫn chưa hiểu, còn cái công ty của ta thì sao ?

-Vấn đề là ở chỗ đó. Em trả ơn cho đại huynh chỉ là chuyện nhỏ, đầu tư cho huynh làm ăn mới là chuyện lớn. Số là, tỉnh ta giao cho em lập dự án đầu tư xây dựng trung tâm công nghệ phần mềm. Em với Châu Long đang đau đầu vì chuyện tìm đối tác để lập công ty sân sau thì bất ngời Lưu huynh xuất hiện. Em bàn với Châu Long bèn lập kế lo cho huynh ăn học . . .

-À, ta hiểu rồi . . .

-Vậy thì, từ nay em là bên A, còn Lưu huynh là bên B.

Bỗng Lưu Bình nổi hứng lên, vừa chát vừa hát:

Bên A là chùm khế ngọt

Bên B trèo hái mỗi ngày

Bên A tràn đầy bổng lộc

Hợp đồng ta ngắt làm hai . . .

-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2008

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH




Quốc mồi


Một hôm, đám gia súc gia cầm gom vào chuồng trâu để họp, tự phê bình và phê bình nhằm củng cố trật tự, kỷ cương, xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ. Gà trống tự phê trước:

-Tui thấy tui hổng có thiếu sót gì hết, ngược lại toàn ưu điểm. Tui không phá phách của ai, không ăn vụn ăn trộm của ai, suốt ngày bươi đống rơm, gốc cây kiếm côn trùng để sống, hàng ngày, cứ 5 giờ sáng là tôi cất tiếng gáy để báo thức cho mọi người . . .

Trâu đực nói chen vào:

-Phải rồi, anh gáy hay, tốt tướng, đẹp trai, hào hiệp thế nên đàn bà trong xóm nầy anh luộc sạch. Ngày nào mà tui không thấy cái cảnh ấy ở chỗ bụi chuối, đống rơm.

Gà trống cụt hứng, vừa thụt cổ, vừa lẩm bẩm:

-Cái vụ nầy là do thỏa thuận chớ tui có ép ai.

Đến lượt chó mực tự phê:

-Tui thì các anh biết rồi, nổi tiếng là có truyền thống trung thành với chủ. Về thành tích mà nói, cái nhà nấy không có tui là các anh chị gà, heo còn bị bọn trộm vào tóm cổ chớ đừng nói chi của cải tiền bạc. Công cán tui là thế nhưng tui được gì ? Theo chủ đi bắt chuột cả ngày, bụng đói lả, về nhà chủ làm chuột chiên vàng nghế, thơm phức, thấy thèm đến chảy nước bọt nhưng có dám rớ con nào. Chủ ngồi nhậu, mình ngồi chờ ổng cho từng miếng xương. Đấy, cái thân phận của chó chực xương là thế. Nhiều khi chủ nổi giận, ổng đánh, ổng đuổi đi, nhưng đi loanh quanh vài ngày rồi cũng quay về để tiếp tục làm tôi tớ. Hễ chủ đi đâu thì tui lội theo bảo vệ. Hôm trước có lần đi theo ổng, tưởng ổng đi đâu, ai dè ổng ra bến xe đò rồi lên xe đi mất. Tui thui thủi lội về, đi lạc cả ngày vì xưa nay mình có ra chợ đâu. Mấy anh biết hôn, đi lạc, bụng đói, thấy đồ ăn người ta bán đầy đường mà mắc thèm. Lúc ấy, có mấy thằng – mà tui nghi là bọn tư sản – nó đem đùi gà nướng ra dụ tui, nó bảo về chợ ở với nó đi, mỗi ngày nó cho ăn một dĩa cơm gà, nhưng tui đâu có chịu . . .

-Đủ rồi – trâu đực cắt ngang – anh ỷ anh trung thành, anh ỷ anh có công nên đụng tới anh là anh hùa cả bầy ! Tui nè, xin lỗi các anh, nếu không có dòng họ nhà tui thì làm gì có được cái nền nông nhiệp hùng cường như hôm nay. Cày, bừa, trục, cộ lúa, đạp lúa, bao nhiêu công việc nặng nhọc cũng trút xuống cái kiếp trâu nầy, vậy mà hở một chút là roi vô đít. Làm thì làm ra lúa, mà ăn thì ăn cỏ ăn rơm . . .

Chó mực trả đũa:

-Bởi vậy nên anh mới có tư tưởng công thần. Cái mặt lúc nào cũng hầm hầm, chưa bao giờ tui thấy anh cười với ai cả.

Gà trống chen vào, giọng mai mỉa:

-Có, có một lần tui thấy ảnh cười. Hôm ấy tui núp trong đống rơm, thấy ảnh thè lưỡi liếm cái gì dưới cạnh đuôi chị trâu cái í, xong ảnh ngửa mặt lên trời, nhe miệng cười sung sướng, nước bọt chảy ròng ròng.

Cả bọn cười rộ lên, trâu đực mắc cỡ cuối gầm xuống, lẩm bẩm chửi thề:

-Mẹ nó, chuyện riêng tư của người ta mà cũng bươi móc cho được ! Đúng là thứ gà bươi !

Đến lượt quốc mồi tư phê:

-Tui thì khác với mấy anh, nhờ có tiếng kêu tốt nên gài được nhiều quốc rừng cho chủ. Từ ngày về đây, tui thấy mình hạnh phúc, khỏi phải tha phương cầu thực, khỏi cực nhọc mưu sinh. Mọi thứ chủ lo hết, tui biết chủ cưng tui, từ việc chọn gỗ tốt để đóng cho tui chiếc lồng thật đẹp đến việc chọn những bông lúa tốt cho tui ăn, thậm chí chủ còn tắm cho tui . . .

Chim sâu đậu bên ngoài, nghe vậy bay vào nói:

-Xin lỗi các anh, tui không phải là thành phần trong cuộc họp, nhưng xin có ý kiến với anh quốc mồi một tí.

-Ê, cái thằng nhải ranh vô dụng kia - quốc mồi nói – cái đồ tự do vô tổ chức kỷ luật kia, ai cho mầy có ý kiến với cái chỗ nghiêm túc nầy ?

-Xin lỗi anh, giữa cái tự do vô tổ chức kỷ luật của tui với cái thân chim lồng cá chậu của anh thì ai sướng hơn ai ? Giữa cái vô dụng của tui với cái sự dùng tiếng kêu tốt của mình để lường gạt, để gài bẫy giết hại đồng loại của anh thì đâu là vinh, đâu là nhục, đâu là thiện, đâu là ác ? Vậy mà cũng vênh cái mặt lên mà tự hào. Chúc anh ở lại trong cái lồng son của anh mà tiếp tục đi giết hại đồng loại, tui về về khoảng trời mênh mông của tui mà tha hồ ca hát.

Nói xong, chim sâu bay cái vèo ra cửa. Cả bọn ngơ ngác nhìn theo rồi nhìn sang quốc mồi. Quốc mồi co cổ lại và rơi hai hàng nước mắt.

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2008

KÉT NGU HƠN BÒ





Một hôm nọ, Hiệp hội gia súc gia cầm tổ chức cuộc thi ngu, con nào ngu nhất sẽ được thưởng một cục tiền và được ghi vào sách kủ lục ngu thế giới. Được tin, bò đực hí hửng đi thi. Ra khỏi chuồng, hắn ta nghinh mặt với vợ: “Kỳ nầy cho mầy biết sự sang trọng của thằng ngu nầy như thế nào để mầy hết khinh khi tao”.

Thế nhưng chiều về, mặt hắn ta bí xị. Bò cái hỏi :

-Thế nào, có được giải không ?

-Được, nhưng giải nhì.

-Thế ai giải nhất ?

-Con két.

Bò cái nổi giận:

-Con két làm sao mà ngu hơn ông được ? Chắc là ban giám khảo gian lận rồi. Sao ông không khiếu nại ?

-Sao mầy biết tao không khiếu nại ? Nhưng đành chịu thôi.

-Sao lại đành chịu ?

-Ban giám khảo nói tao tuy ngu nổi tiếng, ai cũng biết. Nhưng ít ra tao còn có cái chính kiến của tao. Còn con két, tuy nó ăn nói lưu loát nhưng chỉ lặp lại tiếng nói của người khác, bản thân nó không nghĩ ra được câu nói nào. Họ nói vậy làm sao tao cãi được.

Bò cái trầm ngâm một chút rồi giận lẩy bỏ đi, miệng lầm bầm:

-Vậy thì từ nay đừng ai nói câu ngu như bò nữa ! Oan cho ông lắm !

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2008

TRỞ LẠI HỒ TRỊ AN




Chị Tưởng bên nghĩa trang những người khẩn hoang chết vì sốt rét rừng









Trở lại hồ Trị An gặp lại chị Tưởng, chị cho hay, hôm rồi Tòa xử ông Nguyễn Hoàng Huynh, nguyên bí thư huyện Vĩnh Cửu cùng với năm sáu cán bộ huyện về tội sai phạm trong quản lý đất đai, tất cả đều bị kết án tù giam. Nhưng đất của chị bây giờ vẫn chưa được trả.
Xin post lại một câu chuyện cũ.


NỖI NIỀM SINH TỬ BÊN RÌA

“CÔNG THỔ QUỐC GIA”

Tôi hẹn với chị Tưởng và anh Minh trong quán thịt rừng, quán rất yên tĩnh nằm trong khu vườn nhỏ bên bờ hồ Trị An. Mưa chiều lất phất. Chúng tôi ngồi trong căn chòi lá với chiếc bàn đá và ghế đá đơn sơ. Chủ quán giới thiệu thực đơn tòan đặc sản rừng: chồn, nhím, nai, cheo, heo rừng . . . Chị Tưởng nói chỗ chúng tôi đang ngồi, cách đây ba mươi năm là rừng già, thú rừng chạy lọan xạ, cây rừng to đến hai ba tay ôm.

Anh Minh rót rượu, chúng tôi chạm ly, chị Tưởng cũng uống ngon lành. Chị nói khỏang mười năm trước, lúc mới bị chồng bỏ, chị nhậu dữ lắm, một mình uống cả lít không say.

-Tôi tuổi Sửu nên cực như trâu là phải. Ngày xưa trên mảnh đất nầy, tôi là con trâu cái, anh Minh là con trâu đực. Cả làng ai mà chẳng biết, cứ sáng ra là tôi với anh Minh đặt chiếc ách lên bụng, quàng sợi dây thừng lên vai như hai con trâu khom lưng kéo, mẹ tôi cầm cày đi sau. Nhớ lại hồi ấy, cực khổ, đói rách vậy mà vui. Sáng ra đồng kéo cày, chiều về họp tổ bình công, tối chơi văn nghệ. Tôi rất mê bài Khúc hát người đi khai hoang: Ta đốt lửa cho rừng khuya ấm mãi . . . hò ơ . . . ta về đây phá rừng hoang, gió mơn man câu hò từ lán mới, vui rộn tiếng cười tươi trẻ trên nương . . .

Tôi hỏi sao chị với anh Minh không thành vợ chồng, chị nói: “ Tôi cũng chẳng hiểu sao, cả hai chúng tôi không hề nghĩ tới điều đó. Thậm chí anh Minh hẹn với bồ trong rừng, ảnh bảo tôi theo giữ ma, tôi cũng theo ngồi canh cho hai người tâm sự. Mà dường như tôi không có cái thời con gái để yêu đương. Anh Minh hồi ấy cứ gọi tôi bằng thằng cu dù lúc đó tôi đã mười tám tuổi. Có lẽ tại vì người tôi đen đúa, to cao như con trai, suốt ngày mặc bộ đồ may bằng bao cát Mỹ lòng thòng luộm thuộm chẳng giống ai nên anh Minh ảnh chê.

Tôi hiểu chị Tưởng nói vậy không phải ngầm ý trách anh Minh. Ơ đời, đâu phải hể cứ đồng cam cộng khổ là đi đến chuyện vợ chồng. Anh Minh bây giờ vẫn gọi chị Tưởng là mầy tao, thậm chí có khi to tiếng như anh cả trong nhà. Hai người chẳng phải đồng hương, chị Tưởng quê Quảng Trị, anh Minh ở Quy Nhơn, năm 1972, chiến tranh tàn khốc, họ theo dòng người chạy lọan vô Sài Gòn, sống lây lất trên các hè phố cho đến ngày hòa bình rồi cùng với hàng trăm hộ dân trên mọi miền đất nước kéo nhau về đây phá rừng, khẩn hoang theo chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới.

Chị Tưởng kể, hồi ấy nơi đây là rừng nguyên sinh, nổi tiếng là rừng thiêng nước độc. Để trồng được cây lúa, củ khoai, cây bắp trên mảnh đất nầy, con người phải trả một cái giá vô cùng cay đắng. Trước hết là cái ăn cái mặc, thời ấy, những người an cư ở thành phố còn phải xếp hàng mua từng ký gạo, mét vải, cục xà bông . . . huống chi những con người tứ cố vô thân đi xây dựng vùng kinh tế mới. Năm đầu tiên đến đây, sau khi dựng chòi lập nghiệp, họ phải mua chịu từng ký khoai mì của dân địa phương các vùng lân cận để ăn thay cơm, gạo phân phối lúc ấy, dù là gạo ẩm nhưng cũng chỉ dành để nấu cháo cho người già và trẻ con. Củ mì, dù được chế thành nhiều món như luộc, nướng, hấp, chiên nhưng vẫn là mì, ăn hòai không biết chán, mà dẫu có chán cũng phải ăn, thậm chí đến vỏ khoai mì cũng phải tận dụng làm dưa chua để ăn dù biết trong đó có nhiều độc tố. Cái ăn là vậy, còn cái mặc cũng chẳng giống người: quần áo được may bằng bao cát Mỹ. Đêm lạnh thì lấy bao bố kết lại làm mền.

Đói rách là vậy nhưng đó chưa phải là nỗi khổ tận cùng. Chị Nguyệt – người chị lớn của chị Tưởng – trong lúc phá rừng, chị giơ cao cây rựa chặt vào nhánh kè, nhánh kè có hai hàng gai bén như răng cưa từ trên cao rớt xuống cứa ngang đầu chị, tét một đường dài, máu tuôn xối xả, để lại vết thẹo suốt đời. Anh Hòang Minh bị vắt chui vào đường tiết niệu, mấy tháng sau phải cắt bỏ dương vật vì họai tử, nhưng vẫn không khỏi, một thời gian sau anh nghe ngứa ngáy và đau đớn trong nội tạng, bụng to dần lên. Nằm bệnh viện Đồng Nai không chữa được, họ chuyển anh ra viện Ung bứu. Khi giải phẩu mới hay rằng lũ vắt đã sinh sản đầy trong hai quả thận của anh. Hòang Minh qua đời chưa được bao lâu thì người anh trai của anh – anh Hòang Ngọc – lại chết vì sốt rét. Ông Nguyễn Văn Liêm trong khi đang làm rẫy thì bị cây đè. Từ chổ nhà ông, người ta đặt ông lên võng khiêng đi gần mười cây số mới ra đường cái, tới trạm y tế xã. Từ trạm y tế xã, đợi đến chiều mới có một chuyến xe đò, nhưng chiếc xe chạy bằng than đá bò lê trên con đường đất đỏ gồ ghề, đến Trảng Bom thì ông Liêm tắt thở.

Chị Tưởng nói, nỗi ám ảnh lớn nhất, kinh hòang nhất của người dân khai hoang ở đây là sốt rét. Cũng như trường hợp của ông Liêm, mỗi lần có bệnh nhân lên cơn sốt thì người thân hoặc láng giềng khiêng đi bằng võng gần mười cây số ra trạm y tế xã, có khi khiêng đi nửa đường thì phải khiêng về vì bệnh nhân đã chết. Chưa có con số thống kê chính xác về người chết vì sốt rét nhưng dấu ấn của thảm họa nầy đã hình thành cả một nghĩa trang, có những gia đình có đến hai, ba người nằm xuống vì sốt rét rừng. Và ngay cả những người đang sống, sốt rét kinh niên đã làm cho họ không thể lập gia đình như chị Nguyễn Thị Tâm, nhà có năm chị em nhưng người em trai chết vì sốt rét, còn lại bốn chị em gái gần năm mươi tuổi nhưng vẫn sống cô đơn vì sốt rét đã đeo bám họ đến suốt cuộc đời.

Chồng chị Tưởng – anh Nguyễn Quang Hưng cũng chết vì sốt rét, bỏ lại hai đứa con gái. Nhưng bi thảm hơn, vài tháng sau một trận hỏa họan đã thiêu trụi căn nhà của chị. Chồng chết, nhà cháy, tay trắng, chị Tưởng gạt nước mắt ẳm hai đứa con đi tá túc bên nhà của người chị ruột giữa một biến cố xảy ra làm xôn xao vùng kinh tế mới: Tỉnh Đồng Nai ra quyết định tạm giao 480ha đất của dân kinh tế mới cho Ban quản lý công trình thủy điện Trị An làm kho bãi tập kết vật tư thiết bị, nhà xưởng, lán trại để phục vụ cho công trình.

Thế là, vừa an cư lạc nghiệp mấy năm lại phải di dân. Mỗi hộ được cấp lại 1500 mét vuông để tái định cư, còn đất sản xuất nông nghiệp coi như mất trắng. Nhưng, hầu như ai cũng xem đó là nghĩa vụ của mình trước một công trình vĩ đại của quốc gia. Trị An thời bấy giờ như một tiếng gọi thiêng liêng, như mệnh lệnh, cả nước hướng về Trị An, đến văn nghệ sĩ sân khấu nổi tiếng cũng đi lưu diễn khắp nơi để bán vé thu tiền đóng góp cho Trị An . . . Vì thế mà những người dân dù phải mất đất, dù phải lên rừng đào vàng, lấy nhựa chai hay phải đi làm thuê, bán vé số để kiếm sống qua ngày, trong lòng họ vẫn còn chút an ủi là mình đã đóng góp một phần cho dòng điện Trị An.

Một tuyến đường nhựa từ Bùi Chu băng rừng lên Trị An, khu kinh tế mới Cây Gáo, một vùng rừng thiêng nước độc được nâng lên thành thị xã Vĩnh An. Nhưng dân khai hoang, những người đã đổ mồ hôi và xương máu để tạo nên mặt đất nầy bị đẩy lên hậu đất, gần giáp bìa rừng vì chính quyền địa phương cho rằng họ là dân tứ xứ, không rõ nguồn gốc, cần phải đẩy vô trong để bảo đảm an tòan cho các chuyên gia Liên Xô và tài sản xã hội chủ nghĩa. Khi người dân hiểu ra rằng đó là lý do để cán bộ địa phương chiếm đất mặt tiền thì những xung đột cũng bắt đầu.

Bà Ngô Thị Cón từ Quảng Trị dẫn tám người con vào đây khai phá, có ba người con trai đã chết vì sốt rét rừng. Khi con đường nhựa cắt qua thửa đất của bà, bà dựng lại căn nhà mặt tiền trên phần đất còn lại, chính quyền cho công an đến giải tỏa, bà cùng con gái, con dâu cầm rựa ra tử thủ. Nhưng tất cả đã bị bắt giam vì tội chống thi hành công vụ. Trường hợp chị Tưởng cũng tương tự như vậy, sau thời gian tá túc bên nhà người chị ruột, chị xin một lô đất của người bạn để cất tạm một căn chòi. Khi con đường bê tông chuyển thành đường nhựa, lập tức chị bị chính quyền ra quyết định giải tỏa. Khi lực lượng công an đến, một tay chị ẳm con, một tay cầm rựa, chị nói: “Tôi coi như không còn gì để mất, các anh bước tới là tôi chém”.

May thay, chị đã giữ được cái nền nhà mà không phải đi tù.

*

Chị Tưởng lục từ trong tủ ra một đống hồ sơ, giấy tờ có liên quan đến cuộc hành trình hai mươi năm đi kiện. Tất cả có thể vài ba ký lô, riêng hóa đơn phát chuyển nhanh của bưu điện mà chị giữ lại sau mỗi lần gởi đơn thư cũng lên đến hai chồng dầy cộm, ước chừng cũng hơn một ký. Chị nói : “ Đi kiện đến nỗi bị chồng bỏ mà cũng chưa xong, chừng nào tôi còn sống là còn đi đòi lại sự công bằng. Bà Cón ở đằng chợ cũng vậy, đời mẹ đi kiện đến gối mỏi chân mòn rồi đến đời con”.

Năm 1987, chị Tưởng tái giá với anh Thoa, công nhân lái xe cơ giới, sinh thêm hai đứa con trai. Cuộc hôn nhân thứ hai sẽ êm đềm hạnh phúc nếu như không có những bất công, oan trái sau nầy.

Khi cả nước reo mừng cùng Trị An, trẻ con khắp nơi vỗ tay hô “ Có điện ! Có điện !”, người dân khai hoang ở Vĩnh An vừa tự hào vì sự đóng góp của mình, vừa hy vọng được trở lại với mảnh vườn thửa ruộng, với nương rẫy mà mình đã đổ bao nhiêu nước mắt, mồ hôi và xương máu, sẽ được nhận những lời cảm ơn nồng nàn của những người mượn đất để xây dựng công trình. Nhưng không, họ không được thừa nhận là chủ đất. Tất cả đơn thư khiếu nại đòi lại đất đều được trả lời ngắn gọn rằng đất bây giờ là công thổ quốc gia, không ai có cơ sở pháp lý để đòi lại. Đất đô thị sẽ được quy họach làm đô thị, đất nông nghiệp sẽ giao cho kiểm lâm quản lý để phủ lại rừng.

Thị xã Vĩnh An sau đó đổi thành thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu. Nhưng dù là thị xã hay thị trấn thì bộ mặt đô thị cũng đã hình thành, đất đai không còn lạnh lùng như cái thời rừng thiêng nước độc. Gọi là công thổ quốc gia, những người khẩn hoang bị cho rằng không có cơ sở pháp lý để đòi lại đất, cứ ngày nầy qua tháng nọ họ ngậm đắng nuốt cay nhìn người ta dùng quyền thế để phân phát cho nhau trên mảnh đất của mình. Từ ủy ban huyện, công an, huyện đội, ủy ban thị trấn, nhà máy thủy điện, xí nghiệp thủy lợi, công ty xây dựng, lâm trường, hạt kiểm lâm . . . tất cả các cơ quan đóng trên địa bàn nầy đều có quyền ký giấy cấp đất cho cán bộ công nhân viên và người thân của họ. Tự do phân phát, tự do lấn chiếm, tự do sang bán để trục lợi .

Chị Tưởng dẫn tôi đi một vòng quanh thị trấn, bên cạnh nghĩa trang của những người bị sốt rét rừng là trang trại 14 mẫu của ông Đỗ Hữu Tài, phó giám đốc sở giáo dục tỉnh Đồng Nai; phía bên kia là 3,5 mẫu vườn của ông Nguyễn Hòang Huynh, bí thư huyện ủy; còn bên nầy, giáp với hồ Trị An là khu nhà hàng, khách sạn 1,5 mẫu của ông Hùynh Văn Hòang, giám đốc công an tỉnh Đồng Nai. Tôi hỏi chị Tưởng về phần đất của chị, chị nói chị có gần 1,5 mẫu, trong đó hơn 3.000 mét vuông đất thổ cư, phần đất thổ cư trước đây là khu nhà tập thể của công nhân xí nghiệp xây dựng thủy lợi 4, sau khi công trình thủy điện hòan thành, chị làm đơn xin lại đất thì mới hay người ta đã cấp cho hai cán bộ của xí nghiệp. Phần đất rẫy của chị hơn một mẫu, trước đây tạm làm kho bãi của công trình, sau đó chính quyền địa phương cấp cho công an thị xã làm kinh tế phụ, bây giờ trở thành đất thổ cư của các gia đình cán bộ công an.

Chúng tôi trở ra con đường chính của thị trấn rồi rẽ sang bên trái. Chỉ tay về một ngôi biệt thự to đùng giữa vườn cây ăn trái mệnh mông, chị Tưởng cho biết đây là nhà của ông Nguyễn Ngọc Chiến, nguyên chủ tịch ủy ban thị trấn, vừa mới bị bắt giam vì tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng trong quản lý đất đai. Khác với nhiều cán bộ khác bao chiếm đất nông nghiệp của dân để làm trang trại, ông Chiến thâu tóm hơn 16 ngàn mét vuông đất mặt tiền nội ô thị trấn, tòan những vị trí đẹp nhất.

Gần mười năm làm chủ tịch thị trấn, ông Chiến được xem như là vua đất đai ở Vĩnh An. Được sự đỡ đầu của ông Nguyễn Hòang Huynh, chủ tịch huyện, ông Chiến lập quy họach các khu dân cư hàng chục ngàn mét vuông để phân lô bán nền. Với tư cách là chủ tịch ủy ban kiêm chủ tịch hội đồng xét duyệt cấp đất đai, ông Chiến đã trọn quyền ban phát cho mình, cho vợ, cho con, cho em út và những người thân để sang bán làm giàu. Chỉ cần có chữ ký của ông Chiến chuyển lên huyện là ông Huynh cấp sổ đỏ, bất kể đất ấy có nguồn gốc từ đâu. Người dân Vĩnh An dường như ai cũng biết một câu chuyện tưởng như đùa nhưng lại là có thật: Trong một tiệc nhậu, ông Chiến cụng ly nói với một cán bộ ngồi đối diện: “ Mầy vô hết một trăm phần trăm, tao cho mầy hai cái nền nhà”.

Chị Tưởng nói những năm ấy chỉ cần được lòng ông Chiến là có đất, ngay như ông Nguyễn Ngọc Cung, em ruột ông Chiến cũng được cấp gần 10 ngàn mét vuông, ông Ngô Ngọc Nghinh, trưởng khu phố 8 cũng được gần 20 ngàn mét vuông, có sổ đỏ hẳn hoi, ông Nghinh cắt ra hơn hai ngàn mét vuông phân thành bảy lô bán cho bảy hộ khác, thu lợi hàng trăm triệu đồng.

Người dân khai hoang kéo nhau đi kiện, nhưng tất cả chỉ là chuyện nước đổ lá môn. Chỉ có chị Tưởng là kiên trì. Chị đi làm mướn làm thuê, làm cả ngày lẫn đêm để ky cóp từng đồng làm lộ phí đi kiện. Tiền ít thì đi Đồng Nai, khá một chút thì đi Sài Gòn, khá một chút nữa thì nhảy lên tàu đi Hà Nội. Anh Thoa chồng chị khuyên lơn, ngăn cản không được, cuối cùng, không thể chịu đựng nổi người vợ suốt tháng quanh năm chỉ lo kiện cáo, anh bỏ nhà đi.

Bị chồng bỏ, mang thêm hai đứa con, nỗi oan mất đất vốn đè nặng tâm can giờ chồng thêm gánh nặng gia đình. Sáng ra, nhổ vội củ mì sau nhà cắt ra bốn khúc hấp chín phát cho bốn đứa con đi học, rồi chạy ra đồng rẫy hái bắp thuê, được năm bảy ngàn đồng, buổi chiều chạy lên khu vực hồ Mã Đà dọn cỏ hồ cá, cũng kiếm thêm được năm bảy ngàn. Tối về đạp xe chở nước đá bỏ mối cho các hàng quán trong thị trấn. Rồi một đêm nằm ngủ, chị phát hiện mùi thúi bốc lên từ bàn chân ê ẩm của mình. Đó là hậu quả của công việc dọn cỏ, chị phải dùng rựa để chém những cây mắt mèo dầy đặc mọc lên từ dưới đáy hồ, sau đó dùng chân đạp vùi chúng xuống bùn, bàn chân ngâm nước đã mềm phải giẫm lên cây những đầu cây nhọn hoắc. Làm lụng suốt ngày chị không chú ý, đến khi cảm giác được mùi thúi thì mới biết hai bàn chân mình đã lở lóet,tưa tải thịt da. Không có tiền mua thuốc, chị nấu một thau nước muối mang ra ngồi ngâm trong đêm tối. Xót xa và đau đớn.Nỗi khổ nhọc cộng thêm nỗi đau đời đã đẩy chị vào những cơn say khướt mướt. Nhiều đêm sau khi bỏ mối xong nước đá, chị mua một lít rượu trong bọc ni lon, một tay lái xe, một tay cầm bọc rượu, cắn một góc cho rượu chảy ra rồi uống khan một mình, uống cho quên đi chuyện nhân tình thế thái, uống cho say không còn biết trời đất là gì. Rồi chị lọang chọang đạp xe về trong bóng đêm. Về đến nhà, gặp con chị đánh con, gặp đồ chị đập đồ. Cứ thế cho đến một đêm nọ, cũng trong một cơn say quằn quại về nhà, bất chợt chị thấy bốn đứa con chị ôm nhau ngồi thu mình trong một góc giường, đứa lớn đưa lưng ra ngòai như chở che cho đứa nhỏ, mặt mày chúng vừa sợ hãi, ánh mắt như van xin. Lúc ấy, tình mẹ trong chị bỗng dưng thức dậy lấn át cơn say, chị nhào đến ôm con, vừa khóc vừa xin con tha thứ. Từ đó, chị không còn uống rượu nữa.

Nói về anh Minh. Ngay từ năm đầu tiên giao đất cho nhà nước, là người có chút ít chữ nghĩa, anh lên làm việc trên lâm trường Hiếu Liêm. Mười năm sau trở về, thấy cảnh chị Tưởng đi kiện trong sức yếu thế cô mà quan chức địa phương thì càng ngày càng lộng hành xâu xé đất đai. Anh Minh bàn với chị Tưởng, nếu tiếp tục đi khiếu nại đòi lại đất thì chẳng bao giờ có kết quả. Tốt nhất là đi tố cáo những hành vi phạm pháp của các quan chức, phải đẩy họ ra khỏi phạm vi quyền lực thì mới có cơ may đòi lại sự công bằng.

Chị Tưởng tự trang bị cho mình máy ảnh, máy ghi âm để đi điều tra giống như thám tử. Những tin tức thu được chị mang về cho anh Minh viết đơn tố cáo. Không ít lần chị bị ăn đòn vì rình mò sau hè nhà người ta để đặt máy ghi âm. Nhưng việc làm của họ không phải không mang lại kết quả: báo chí vào cuộc, thanh tra vào cuộc, sáu cán bộ huyện gồm bí thư, chủ tịch, chánh thanh tra, trưởng phòng địa chính, trưởng phòng tài chính, trưởng phòng kinh tế đã bị cách chức, ông Chiến, chủ tịch thị trấn và ông Sơn, cán bộ địa chính thị trấn vừa bị bắt giam.

Chị Tưởng vừa sắp lại hồ sơ, vừa nói: “ Hôm công an bắt ông Chiến tôi không hay, nếu hay được tôi sẽ mang máy đến chụp hình. Chiếm đất cho nhiều rồi cuối cùng vô ở trong mấy mét vuông. Lòng tham đã làm cho con người ta ngu muội đến thế là cùng”. Tôi hỏi dự định sắp tới chị làm gì ? Chị nói : “ Tôi sẽ kiện ra tòa để đòi lại đất. Anh Minh đã nói đúng, đây không phải là chuyện khiếu nại, kêu oan mà là cuộc đối đầu giữa cái thiện và cái ác. Chỉ có đánh đổ cái ác thì mới mong tìm lại sự công bằng”.

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2008

CHIẾU CÀ MAU




Quê ngoại tôi ở làng chiếu Tân Thành, bên bờ sông Cái Nhúc, vùng ngoại ô thành phố Cà Mau. Mẹ tôi, chị tôi, mấy dì tôi, nói chung là cả dòng họ bên ngoại tôi đều là thợ dệt. Vì vậy mà hai tiếng quê hương đối với tôi cũng đồng nghĩa với không khí và hình ảnh của một làng nghề. Tôi xa quê gần hai chục năm, thời gian và cát bụi thành thị đã làm cho hình ảnh xóm làng chìm dần trong ký ức, vải drap và nệm muosse đã làm cho tôi quên đi manh chiếu quê nghèo.

Thế rồi một buổi sáng tình cờ, chị Năm Niêm - Giám đốc Sở Thương mại Cà Mau - gặp tôi trong quán cà phê, chị nói : Hôm nay trong Hội chợ có tổ chức cuộc thi dệt chiếu, bốn mươi thợ dệt từ các làng chiếu được tuyển về, vui lắm, vào chơi ! Tôi vội vã đi ngay và bỗng thấy lòng nôn nao như đi tìm lại một cái gì thân thiết.

Làng chiếu đây rồi ! Hai mươi khung dệt được xếp theo từng hàng dưới những mái lều trong Hội chợ. Bốn mươi thợ dệt cùng hàng trăm cổ động viên từ các làng chiếu Tân Thành, Tân Lộc, Tân Duyệt, Tân Hưng, Cả Giữa đã tạo nên hương sắc độc đáo của một làng nghề không lẫn vào đâu được giữa chốn Hội chợ phồn hoa.

Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm.

Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu.

Chiếu nầy tôi chẳng bán đâu.

Tìm cô không gặp, tôi gối đầu mỗi đêm.

Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào bên bờ kinh Ngã Bảy sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra . . . chào !

Có lẽ trong chúng ta – người dân Nam bộ – không ai không biết đến bài ca Tình anh bán chiếu nổi tiếng của Viễn Châu qua giọng ca của nghệ sĩ Út Trà Ôn. Bài ca ấy đã góp phần tôn vinh và tạo nên ấn tượng sâu sắc, đậm đà cho nghề dệt chiếu – chiếu Cà Mau !

Con người Việt Nam, ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời đã được nằm trên manh chiếu nhỏ. Khi trưởng thành, đến ngày cưới, lòng nôn nao đi chọn đôi chiếu Tân hôn. Và đến khi lìa đời, thân xác cũng được tẩm liệm bằng đôi chiếu mới. Nghĩa là suốt cuộc đời gắn liền với chiếu, nhưng lại có mấy ai hiểu được cái nắng mưa, cực nhọc của người thợ dệt tảo tần làm ra đôi chiếu.

Tôi tìm đến làng chiếu Tân Thành trong Hội chợ để tìm lại kỷ niệm của quê nhà, gặp chị Bé và chị Dung, nhắc lại một hồi lâu mới nhận ra nhau. Chị Bé nói làng chiếu Tân Thành bây giờ không còn nhộn nhịp như xưa, bởi vì chiếu đang từng ngày rớt giá. Gia đình chị mỗi năm chỉ dệt vài trăm đôi, chủ yếu là chiếu lảy chữ và chiếu hoa theo đơn đặt hàng. Tôi nhớ ngày xưa, vào mùa chiếu đông ken, nhà nhà chẻ lác, người người chẻ lác, lác trắng, lác nhuộm màu xanh, đỏ, tím, vàng phơi đầy hai bên bờ sông Cái Nhúc. Đó là thời điểm nông nhàn sau vụ cấy lúa mùa, tức từ tháng tám đến tháng mười âm lịch, cả xóm đổ xô ra đồng phát lác. Từng bó lát được chở về dựng đầy sân, già trẻ xúm nhau kẻ tề bông, người phân cỡ.Sau khi chẻ lát xong, người thợ dệt bắt đầu quay sang xé dây bố. Vỏ cây bố được bóc ra và cạo bỏ phần da sần sùi, giữ lại phần tơ mỏng, đem phơi khô và dùng móng tay xé ra từng sợi nhỏ li ti, sau đó dùng hai bàn tay se lại thành từng cuộn chỉ, gọi là chắp trân. Sợi trân được vòng qua một ống tre khoảng ba tấc treo trên trần nhà, gọi là ống bã. Người thợ chấp nối từng sợi bố rồi se lại trong lòng hai bàn tay thành dây trân. Mỗi lần rút dây trân qua ống bã, một âm thanh từ ống tre phát ra như tiếng đàn gáo. Cái âm thanh ấy đã từng ru tôi vào giấc ngủ khi mẹ tôi ngồi chấp trân giữa ban đêm.

Tháng chạp, lúa vô bồ xong là đến mùa dệt chiếu. Ngoài những loại chiếu trung bình dệt bán cho thương lái gọi là chiếu hàng, thợ dệt quê tôi nổi tiếng làm chiếu cao cấp gọi là chiếu đặt, tức là dệt theo đơn đặt hàng của khách. Đó là những đôi chiếu màu, chiếu bông, lảy hình con bướm, con nai, hoặc lảy chữ Tân hôn, Trăm năm hạnh phúc, Chúc mừng năm mới . . . Những đôi chiếu ấy được tuyển lựa từng sợi lác rất công phu, dệt thật đều, thật mịn để đôi chiếu như một bức tranh lộng lẫy, mượt mà.

Dệt chiếu để bán xong, mỗi nhà còn dệt cho mình những đôi chiếu đẹp để dành trải ra tiếp khách hoặc làm quà tặng cho bà con ở phương xa. Ngày giỗ, ngày tết, khách ngồi quây quần trên chiếc chiếu bông quanh mâm rượu mâm trà. Chiếu cũ thì dùng để trải dưới ghe, dưới xuồng mỗi khi có việc đi xa.

Mẹ tôi năm nay đã ngoài tám mươi tuổi, đã bỏ nghề chiếu gần hai mươi năm, đã rời làng quê ra chợ, đã ngủ bằng nệm mousse. Nhưng ngày đám cưới của thằng em tôi ở Sài gòn, bà vẫn lặn lội về Tân Thành đặt làm một đôi chiếu bông để làm quà mang lên tặng nó. Dường như đó là một thói quen của người thợ dệt.

Tôi gặp chị Năm Nga, một cổ động viên của làng chiếu Tân Lộc, ngồi uống cà phê trong Hội chợ, chị kể với tôi rằng ở quê chị hồi xưa có cô Sáu Liên đẹp nổi tiếng mà cũng là thợ dệt nổi tiếng. Thông thường thì chiếu lảy chữ mỗi cặp thợ dệt mỗi ngày chỉ một chiếc, nhưng hai chị em cô Sáu Liên dệt mỗi ngày đến hai chiếc. Sáu Liên có người yêu sắp cưới tên anh Thành. Năm ấy cô dệt đôi chiếu Tân hôn, một chiếc lảy chữ Liên-Thành và một chiếc lảy chữ Hạnh phúc. Đám cưới chưa kịp tổ chức thì anh Thành đi tập kết, cô Liên đành phải xếp đôi chiếu Tân hôn lại để đợi chờ. Sau đồng khởi, cô Liên tham gia kháng chiến rồi hy sinh, ngày lễ truy điệu của cô, đôi chiếu Tân hôn được đem ra làm đôi chiếu liệm để đưa cô về với đất. Lúc mở đôi chiếu ấy ra, cả làng chiếu Tân Lộc và đồng đội của cô không ai cầm được nước mắt.

Chiếu đã gắn bó với con người như thế ! Tôi lấy làm lạ là trong cuộc thi dệt chiếu, Ban tổ chức không gọi các thí sinh bằng thợ dệt mà gọi họ là nghệ nhân. Cũng phải thôi, mỗi chiếc chiếu là một bức tranh với những đường nét và màu sắc rất điêu luyện. Tất nhiên, cuộc thi nào cũng có giải nhất, giải nhì, giải ba và giải khuyến khích. Nhưng với cặp mắt thường, khó mà phân biệt được khoảng cách của các giải thưởng ấy ra sao.

Đêm trao giải mới xúc động làm sao, có lẽ đây là lần đầu tiên sau những trăm năm với bao nhiêu thế hệ làm nghề, người thợ dệt chiếu mới được bước lên sân khấu, nghề chiếu Cà Mau mới được tôn vinh. Tôi nhìn họ, từ bé Huyền Trân 11 tuổi đến bà cụ Lê Thị Sáu 68 tuổi, và cả chị Thi bụng đang mang bầu, tất cả trong áo vải quần thô, trong đôi dép nhựa đứt quai, những bàn tay chai sạn, những mái tóc vàng hoe và những gương mặt nám đen vì nắng gió, vì nước mặn đồng chua. . . Vậy mà, chính họ đã làm nên CHIẾU CÀ MAU nổi tiếng.

Chị Năm Niêm khẳng định với tôi một cách tự tin và tự hào rằng với tay nghề của những nghệ nhân hôm nay, chiếu Cà Mau vẫn sẽ tồn tại và phát triển cùng với nền văn minh hiện đại. Dù cho công nghiệp hiện đại phát triển đến đâu đi nữa thì hàng thủ công mỹ nghệ vẫn có vị trí riêng của nó. Chị nói, người Pháp đã đưa các cô gái Chăm vào dệt lụa trong khách sạn Victoria ở Cần Thơ thì không lý do gì chúng ta không quy hoạch các làng chiếu Cà Mau gắn liền với các khu du lịch sinh thái ở rừng đước rừng tràm, để từ những địa chỉ nầy, chiếu Cà Mau sẽ trở thành quà lưu niệm cho khách du lịch thập phương.

-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2008

QUẢNG CÁO CHƠI




SÀI GÒN TIẾP THỊ NGUYỆT SAN SỐ 06, PHÁT HÀNH SÁNG NAY,31-11, MỘT SỐ BÁO DÀNH CHO CHỊ EM CÓ GIA ĐÌNH VÀ CHƯA CÓ GIA ĐÌNH VỚI NHIỀU ĐỀ TÀI HẤP DẪN NHƯNG NGU SAO KỂ RA,HÃY ĐỌC THÌ SẼ BIẾT.TẤT NHIÊN LÀ CÓ BÀI CỦA TUI NÊN TUI MỚI QUẢNG CÁO, MỘT BÀI VIẾT NÓI XẤU PHỤ NỮ VÀ ĐÀN ÔNG. MỘT CÂU CHUYỆN CÓ THẬT TRĂM PHẦN TRĂM, ANH CHỦ TỊCH XÃ DẪN CÔ TRƯỞNG TRẠM Y TẾ BỎ TRỐN.

Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

-->đọc tiếp...

HỒ SƠ MỘT ĐÁM CƯỚI





Thằng Lý nhờ tôi đại diện cho họ nhà trai để về Chợ Mới tổ chức đám cưới cho nó. Nó nói, toàn bộ chi phí, lễ vật cha mẹ vợ nó lo hết rồi, chỉ cần tôi có mặt với tư cách đại diện nhà trai. Tưởng gì chớ cái chuyện như vậy ai làm chẳng được. Nó nói vậy mà cha ruột nó lại không làm được. Ban đầu ổng hứa sẽ lên, nhưng gần tới ngày đám, nó gọi điện thì ổng cúp máy.

Ba thằng Lý là anh Tư Luận, con của bác Ba tôi. Tuy là anh em con chú con bác, nhưng có một thời chúng tôi coi nhau như anh em ruột. Thời chiến tranh ly loạn, chúng tôi chia nhau từng nỗi buồn, niềm vui, nhà ai có chuyện thì vượt sông, băng đồng đến thăm nhau, có xuồng thì chèo xuồng, không có xuồng thì lội bộ hàng chục cây số băng qua cánh đồng chó ngáp.

Sau chiến tranh, mỗi người đi một nẻo. Tôi xuống Cà Mau, anh Luận lên Sóc Trăng. Khỏang cách không gian, thời gian cùng với cuộc mưu sinh khó học cũng đã làm nên khỏang cách giữa con người. Mười năm sau tôi tìm thăm bác Ba tôi ở Sông Phụng, Kế Sách thì anh Luận đang làm chủ tịch xã. Thế rồi hai năm sau, đùng một cái, tôi nhận được tin anh bỏ trốn, dẫn theo chị Hằng, y sĩ mới ra trường về làm trưởng trạm y tế xã. Anh Luận có ba đứa con, thằng Lý năm tuổi, thằng Trí ba tuổi, bé Nguyên ba tháng. Được tin chồng theo vợ bé, chị Loan, vợ anh ẵm bé Nguyên đến bỏ trên bàn ủy ban xã như mắc đền một món nợ rồi chị ra đi, lên Sài Gòn lấy chồng khác. Anh Trung, em kế anh Luận đến ẵm bé Nguyên về nuôi ở Vũng Thơm, thằng Lý, thằng Trí ở lại Sông Phụng với bác Ba tôi.

Mấy năm sau tôi được tin, anh Luận dẫn chị Hằng về Long Khánh mua xe tải làm ăn nhưng thất bại, bán xe về Chủ Chí, gần đồng cho ngáp mua đất nuôi tôm, chị Hằng mở phòng mạch. Tôi ghé thăm, anh Luận bơi xuồng đưa tôi đi xem vuông tôm, anh nói thao thao bất tuyệt về một chiến lược phát triển kinh tế gia đình bằng nghề nuôi tôm sú. Tôi định hỏi thăm ba đứa nhỏ, nhưng sợ anh ngại nên thôi. Sau đó tôi lên Sóc Trăng thăm bác Ba. Ông sống chật vật với đồng lương hưu nhưng phải gồng thêm hai đứa cháu nội, ngày ngày đưa đón nó đi học, có hôm trời mưa, đường trơn, đường đứt, lầy lội, ông phải vừa dắt thằng Lý, vừa cõng thằng Trí trên lưng. Vợ chồng anh Trung ở Vũng Thơm, không đất, không nghề, không vốn, sống trong căn chòi rách nát dưới bờ tre, chồng đi bán cà rem, vợ đi giũ rơm mót từng hạt lúa để nuôi ba đứa con, phải gánh thêm bé Nguyên con anh Luận.

Một hôm, bác Ba tôi tìm đến nhà tôi, ông vừa khóc vừa kể, vợ chồng anh Luận bắt thằng Lý, thằng Trí về giữ vuông tôm, nói là đem về nuôi nhưng thực chất cư xử còn tệ hơn kẻ ăn người ở. Được mấy năm, tôm chết, không muốn cho nó ở nữa nên vu khống nó ăn cắp tiền. Giờ hai anh em nó lang thang không biết trôi dạt về đâu. Mấy năm sau tôi lên Sóc Trăng, thấy anh Trung càng nghèo hơn trước, nhà cửa rách nát, che bằng đủ thứ vật liệu tự kiếm dược, kể cả bọc nilon, nhưng bé Nguyên vẫn tiếp tục học đến lớp 12. Bác Ba tôi thì già yếu, mắt mù lòa, thằng Trí thì đã tìm về, đang làm thợ cho một tiệm sắt ở Sông Phụng, nghe nói thằng Lý đi làm cho một hãng giầy ở Sài Gòn. Một hôm, bất ngờ anh Luận đến nhà tôi, anh vẫn thao thao về chiến lược phát triển kinh tế gia đình bằng nghề nuôi tôm sú. Tôi kể sơ qua về hoàn cảnh anh Trung, anh Luận gạt ngang nói, cái thằng ấy lêu têu không biết làm ăn. Tôi nói dù sao anh Trung cũng nuôi bé Nguyên đến 18 năm, cho nó ăn học nên người. Anh Trung bây giờ đang cần một chiếc xe gắn máy để chạy xe ôm, xe Trung Quốc bây giờ chỉ có 8 triệu, anh Trung chỉ cần 4 triệu mua trả góp. Anh Luận nói: “Tưởng nhiều chớ 4 triệu thì anh chi ngay, chi một cách công khai mà không cần giấu chị Hằng”. Nghe anh nói quyết liệt, tôi cũng tin, nhưng cuối cùng thì chẳng có gì.

Bé Nguyên bây giờ đã lấy chồng, cả hai đều có việc làm ổn định tại Vũng Thơm. Thằng Trí cưới vợ được hơn một năm, vợ nó mở tiệm uốn tóc, nó vẫn làm công cho tiệm sắt ở Sông Phụng. Thằng Lý cũng vừa cưới vợ mấy hôm nay. Anh Luận thì bị chị Hằng đuổi ra khỏi nhà, đang sống lang thang với bà con bên nội tôi ở Chủ Chí. Cách nay mấy hôm, chị Út, con bác Hai tôi gọi điện nói mầy có cách nào cứu anh Luận mầy không, nó nằm ở nhà tao khóc suốt ngày, cứ đòi tự tử. Tôi nghĩ, có thể đó là một trong những lý do mà anh từ chối đi dự đám cưới của con anh. Sở dĩ tôi nói một trong những lý do là vì đám cưới bé Nguyên anh cũng không về dự, dù lúc ấy anh chưa bị vợ đuổi đi. Và cả đám cưới của thằng Trí, anh cũng chỉ đến để chứng kiến chớ chẳng có trách nhiệm gì. Ngay cả đám tang của bác Ba tôi, anh cũng chỉ góp vài trăm ngàn như một số tiền đi điếu.

Đám cưới thằng Lý diễn ra thật đẹp, đúng lễ nghi của một gia đình có truyền thống Phật giáo Hòa Hảo ở Cù Lao Giêng. Chúng tôi áy náy vì phải nói dối với họ hàng nhà gái rằng cha của Lý bị tai biến, nằm liệt giường nên không đi được. Cha vợ của Lý, anh Út Nhánh là một nông dân thật thà, chất phác nhưng lại sáng suốt trong mưu sinh và cả chuyện đối nhân xử thế. Từ Cù Lao Giêng, anh thu mua xoài non của chủ vười tỉa thưa rồi làm dưa chở lên Sài Gòn bỏ mối cho các nhà hàng. Anh nói, những năm đầu do không quen biết, giao dịch kém nên mỗi ngày tiêu thụ năm ba chục ký. Từ khi có thằng Lý vào tiếp một tay, số lượng tiêu thụ cứ tăng dần, nhưng không ngờ tình cảm của nó với con bé Thảo Nhi cũng tăng dần. “Ban đầu cũng lo lắm chớ, gã con cho một đứa không cha không mẹ, không rõ nguồn gốc, ai mà không lo. Nhưng rồi tôi thấy nó thật thà, kể hết đầu đuôi câu chuyện gia đình, không giấu giấm dù là những chuyện rất đau lòng, tôi cảm thấy thương, thương như con ruột. Nó lại là đứa biết cần cù, chịu khó, chí thú làm ăn, minh bạch từng đồng từng cắc . . . kể ra con mình cũng có phước”.

Nghe anh nói, tôi nghĩ mà giật mình, mà cảm động. Một thằng vô phước từ khi lên năm tuổi, hơn hai mươi năm lưu lạc, từng chịu đựng bao đắng cay tủi nhục, vất vơ vất vưỡng nơi xó chợ đầu đường, giờ biết đem lại hạnh phúc cho người khác. Nếu anh Luận hiểu được điều nầy, anh sẽ nghĩ sao ? Tôi kể lại câu chuyện nầy, vì không thể nào không kể sau khi nghe cha vợ thằng Lý tự hào về nó, nếu có điều gì làm tổn thương anh, mong anh hãy hiểu cho.

-->đọc tiếp...