Thứ Hai, 13 tháng 10, 2008

BÀ LÃO BÁN BÁNH CHUỐI





Tôi hỏi dì thứ mấy, dì nói: “Cứ gọi tôi là dì Cúc, tôi không có anh chị em gì cả nên cũng không biết mình thứ mấy”. Bà lão vừa đẹp người, vừa ngọt ngào, nhân hậu. Một tay bà cầm miếng bánh chuối trở qua trở lại trên bếp than, mắt trông chừng về phía xa xăm trên con đường một chiều. Rồi bất giác bà gom tất cả vào cái giỏ, vừa bưng vừa chạy. Cả khu phố nhốn nháo lên khi chiếc xe tải nhỏ của nhân viên quản lý trật tự đô thị chầm chậm đi qua. Như một hòn đất vừa ném xuống ao bèo, chiếc xe tải nhỏ ấy vừa khuất bóng thì những người buôn bán trên vỉa hè trở về vị trí. Thuốc lá, quà lưu niệm, bao cao su, văn phòng phẩm, bánh mì, bánh bông lan, bánh chuối . . . mỗi người một gánh, một giỏ, một chiếc bàn con, một thúng, một xịa . . . dọc theo đường Lê Lợi, tồn tại suốt mấy chục năm qua, trở thành hình ảnh quen thuộc với khách qua đường. Dì Cúc từ trong nhà gởi xe thở phào bước ra, đặt cái giỏ xuống vị trí của mình trước nhà sách Sài Gòn. Lại thở phào, dì nói với tôi: “Hôm trước tôi bị tịch thu cái ghế mủ, xách không kịp, mới mua lại hết mười ngàn đồng”. Tôi ngồi xuống cạnh dì, nhấm nháp vài cái bánh chuối, cảm giác ấm áp, gần gũi như chính mẹ tôi. Chỉ khác chăng là mẹ tôi xưa trầm mình suốt ngày dưới đồng cạn đồng sâu để nâng niu từng cây lúa, còn dì dãi nắng dầm mưa, chắt chiu từng đồng giữa chốn phồn hoa đô hội.

Tôi quen dì Cúc qua một sự hiểu lầm. Hôm ấy, đưa con gái vô nhà sách Sài Gòn, trời mưa lất phất, thấy bà lão bán bánh chuối cho mấy người khách ngoại quốc, sẵn máy ảnh tôi bấm vài kiểu, dì đứng dậy bỏ đi, nét mặt buồn buồn. Khi tôi cất máy vào túi, dì mới quay lại chỗ ngồi và nói như cầu khẩn: “Chú đừng chụp hình tôi, tôi sợ lên báo lắm”. Tôi hỏi tại sao, dì nói mình bán hàng rong, phải trốn chui trốn nhũi, lên báo rồi làm sao trốn được. Tôi mua bánh của dì thay cho lời xin lỗi. “Khổ lắm cháu ơi, từng tuổi nầy phải nuôi hai thằng con trai trên ba mươi tuổi. Một thằng khùng, một thằng bệnh xơ gan”. Bán mỗi cái bánh chuối lời một ngàn đồng, mỗi ngày kiếm được bảy tám chục ngàn, nhưng phải tốn ba chục ngàn cho hai cuốc xe ôm. Tôi nói để tối nay con chở dì về, đỡ tốn mười lăm ngàn. Dì nói: “Thôi, vừa làm phiền cháu, lại làm phiền chú chạy xe ôm. Hàng đêm, mưa gió cỡ nào chú ấy cũng chờ tôi đến chín giờ rưỡi, lúc ấy có ai kêu một cuốc ba bốn chục ngàn chú cũng không đi”.

Hôm sau, tôi mua một ít thuốc nam mang đến trao cho dì, tôi nói tôi muốn qua nhà xem bệnh gan của thằng Lộc ra sao để giúp nó chữa trị. Dì vui mừng và cảm ơn rối rít. Dì nhờ một người bán hàng rong bên cạnh: “Nhắn với chú xe ôm giùm tôi đêm nay khỏi rước, tôi phải dẫn một đứa cháu về nhà để xem bệnh cho thằng Lộc”. Rồi dì quay sang tôi: “Phải nói như vậy để chú xe ôm đừng buồn”.

Ngôi nhà dì Cúc nằm trong con hẻm nhỏ trên đường Phan Xích Long. Gọi là nhà, nhưng thật ra nó nhỏ hơn một căn phòng ngủ bình thường. Ngang hai mét, dài bốn mét. Phía trên có cái gác gỗ. Dì nói thằng Lộc ngủ trên đó, còn dì với thằng Phát ngủ ở dưới. Thằng Phát ngồi trầm ngâm, tựa lưng vào vách tường, thỉnh thoảng cười một mình, thỉnh thoảng lại lườm lườm nhìn mọi người như nổi giận. Lộc thì bắc ghế ngồi ngoài hiên, mặc quần cụt, ở trần, da ngâm đen, người ốm còm, yếu ớt. Tôi hỏi bệnh tình thế nào, Lộc buồn rầu đáp: “Bác sĩ nói em bị xơ gan”.

Xơ gan ! Nếu nhẹ thì cũng phải tốn bạc trăm triệu, còn nặng thì vô phương cứu chữa. Tôi hỏi Lộc gần đây có đi xét nghiệm không, Lộc lắc đầu, bảo có xét nghiệm cũng chỉ buồn thêm thôi, giải quyết được gì. Xơ gan thì không được làm nặng, vậy mà có lúc Lộc đi làm thợ hồ, làm được một hai ngày rồi đuối sức. Hàng ngày, Lộc ngồi trước cửa, đón mấy người mua ve chai để nó mua lại các món đồ điện, rả ra, chùi bóng từng món phụ tùng rồi mang đi bán, có hôm cũng kiếm được vài chục ngàn đồng, có hôm không kiếm được đồng nào.

Dì Cúc nhìn Lộc đang ngồi trầm tư, rồi như dì nói với chính mình: “Thôi thì nó sống vui được ngày nào hay ngày nấy, số trời đã định vậy rồi”. Hỏi đời dì khổ nhất là lúc nào, dì nói khổ từ nhỏ đến giờ thì biết sao mà nói được, nhưng riết rồi quen, rồi không còn thấy khổ. Nhưng buồn nhất là những lúc bị cảm cúm, nhức đầu hay trời mưa kéo dài không đi bán được, ba mẹ con nằm chèo queo trong nhà mà hết gạo hết tiền. Hỏi quê quán, dì chỉ biết mình gốc gác Quảng Nam, cùng với mẹ trôi dạt vào Sài Gòn theo khói lửa chiến tranh, dựng một căn chòi bên bờ kinh Nhiêu Lộc. Dòng kinh đen oánh ấy đã nhuốm bao thế hệ đời người. Chồng bị bắt lính rồi biệt tích, để lại cho dì bốn người con trai, cũng lớn lên bên dòng kinh đen ngòm số phận. Sau khi giải tỏa kinh Nhiêu Lộc, dì được đền bù một số tiền đủ mua căn nhà mười sáu mét vuông. Rồi nghèo túng, nợ nần, căn nhà cũng teo tóp dần còn một nửa. Hai người con trai lớn cưới vợ, ra riêng nhưng vẫn nối tiếp số phận bấp bênh của đời người đi trước.

Tôi nghĩ miên man về một chiếc cần câu cho dì Cúc, nhưng đành chịu, chỉ còn biết hy vọng vào một phép màu nào đó. Tôi bèn hỏi, nếu ông trời cho dì một điều ước, chỉ một điều duy nhất thôi, thì dì sẽ ước gì ? Dì Cúc trả lời ngay mà không cần suy nghĩ: “Ước bán đắt hơn để đủ tiền nuôi hai đứa nó”. Tôi lại hỏi, nếu có thêm điều ước thứ hai ? Dì cũng trả lời ngay: “Ước mạnh giỏi, đừng chết trước hai đứa nó”.

Trời ạ ! Gần bảy mươi tuổi rồi, lại phải lo cái nỗi lo lá úa lìa cành trước lá xanh !

Tôi hỏi có khi nào dì tìm thấy một niềm vui, dì nói cũng có, ví dụ như mấy cô nhân viên nhà sách Sài Gòn, tháng nào lãnh lương cũng dúi vào tay dì chút ít tiền, người năm chục, người một trăm. Mới đây, đứa cháu nội thi rớt đại học, được cô giám đốc nhà sách giới thiệu vô làm việc trên công ty. Mình bán ở đây, mấy cổ không đuổi mà còn giúp đỡ, ơn nầy không biết bao giờ mới đền đáp được.

Con gái tôi, sau khi nghe tôi kể câu chuyện nầy, nó nói: “Cha nói với bà, hàng đêm con đi học Anh Văn, con sẽ đưa bà về để đỡ tốn mười lăm ngàn”. Nhưng dì lại từ chối: “Thôi cháu ạ, cho dì gởi lời cảm ơn con bé, nhưng làm như vậy tội nghiệp chú xe ôm. Chú ấy tốt lắm, đêm nào mưa to gió lớn cũng không bỏ dì, hôm rồi xăng lên giá, dì bảo lấy thêm hai ngàn, chú ấy cũng từ chối”.

Thôi thì đành vậy. Kể câu chuyện nầy, tôi cũng không mong mõi gì hơn, nếu hôm nào các bạn chợt đi qua đường Lên Lợi, hãy ghé trước nhà sách Sài Gòn - từ 16 giờ chiều đến 21 giờ đêm - mua giúp dì Cúc vài chiếc bánh chuối nướng. Bởi dì đã nói, nếu ông trời cho dì một điều ước, dì chỉ “ ước sao bán đắt hơn để đủ tiền nuôi hai đứa nó” mà thôi.

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2008

CÒ ỈA MIỆNG VE




Một cái ve chai để giữa đồng, con cò bay qua, phẹt một cái, trúng vô miệng chai. Ông bà ta nói rằng CÒ ỈA MIỆNG VE là như thế, haha !

-->đọc tiếp...

Mời bạn lên Đỉnh Mồ Côi xem cổ tích





Có ai muốn chia sẻ cùng anh Bông ?



CỔ TÍCH TRÊN ĐỈNH MỒ CÔI

Khi bà Tiên qua đời, anh tiều phu có lo cho những thiên thần bé nhỏ ấy học hành đỗ đạt hay không? Những câu chuyện cổ tích bao giờ cũng đi đến một kết thúc có hậu. Nhưng dân gian thường hay lý giải sự bế tắt bằng những phép màu. Và tôi hy vọng trong câu chuyện nầy, sẽ có một phép màu nào đó đến với anh Bông. Phép màu ấy chính là cái tâm, l à lòng nhân ái đang ẩn chứa đâu đây, trên cõi đời nầy.

Bà Võ Thị Ba, bảy mươi tuổi, tóc trắng như một bà Tiên; con trai bà, anh Nguyễn Tấn Bông, 43 tuổi, người gân guốc, đen sạm và mạnh khoẻ như anh tiều phu; mười một đứa trẻ, chín trai, hai gái, đứa lớn năm tuổi, đứa nhỏ nhất một tuổi, đứa nào cũng trắng trẻo, khôi ngô như những thiên thần. Đó là một gia đình sống trên đỉnh Mồ Côi hoang vắng, thuộc quần thể Núi Cấm, giữa vùng núi Thất Sơn, An Giang. Người ta cho rằng đó là một gia đình lạ, có một không hai trên đất nước nầy, nếu không muốn nói là có một không hai trên thế gian.

Dì Ba kể rằng, quê dì ở Bình Thủy, Cần Thơ. Ngày xưa dì từng là chủ xe đò. Năm 1980, có lần dì theo xe đưa ngĩa vụ quân sự qua Thất Sơn, bổng dưng dì mê núi. Từ đó, thỉnh thoảng là dì “đi núi”, không phải viếng chùa cúng miễu gì cả, dì không theo đạo nào, nhưng trong nhà dì, đạo nào dì cũng thờ, thờ chung một bàn, không sợ họ “nghịch” nhau. Dì nói, tôi không học giáo lý của tôn giáo nào cả, nhưng tôi thờ tất cả vì đạo nào cuối cùng cũng là hướng thiện, mà con người luôn cần có cái tâm. Trở lại chuyện đi núi, dì nói không hiểu sao mỗi lần đi là không muốn quay về. Núi Cấm hồi ấy hùng vĩ, mênh mông, hoang vu và cô tịch. Vậy mà dì cảm thấy mê. Một hôm, dì nói với các con: “Tao bán nhà lên lên Núi Cấm ở”. Anh Nguyễn Tấn Bông, con trai út của dì lúc bấy giờ mới hai sáu tuổi, nói: “Nếu má đi thì con đi theo má”. Cuối năm 1991, dì bán căn nhà được ba lượng vàng, dẫn anh Bông lên xe đò đi Núi Cấm. Anh Bông kể: “Đầu tiên khi đến đây, hai mẹ con tôi mua một căn nhà nhỏ dưới chân núi để mở quán cà phê. Được một năm, má tôi nói ở đây xe cộ ồn ào, những ngày lễ chùa, khách hành hương đông nghẹt. Bán quán thì cần khách, nhưng khách đông thì bà cảm thấy khó chịu. Biết tính má tôi muốn sống yên tĩnh một mình, không thích gần ai nên tôi tìm đường lên đỉnh Mồ Côi mua đất. Gọi là mua nhưng thật ra hồi ấy, ba mẩu đất chỉ có hai chỉ vàng. Từ chân núi lên tới đỉnh Mồ Côi, hồi ấy không có đường xe, chỉ có con đường mòn len lỏi theo con suối Thanh Long. Độ cao của Núi Cấm chỉ trên dưới bảy trăm mét nhưng đường lên đỉnh quanh co gần mười cây số, lên xuống nhiều con dốc, lởm chởm đất đá, đầy nguy hiểm, nhọc nhằn. Cách một hai cây số mới có một ngôi nhà. Rừng núi hoang vu buồn đứt ruột.Vậy mà má tôi kiên quyết ở đây”. Hỏi, lúc mới lên sống bằng gì ? Anh Bông nói, cái may mắn của anh là, từ chiến trường Campuchia vừa xuất ngũ trở về, đôi chân và cả phần tâm linh còn quen với núi rừng bên ấy. Ban đầu, anh đi gánh mướn các loại đồ rẫy cho những gia đình trên núi. Nào su, nào chuối, nào xoài, nào mít, nào măng . . ., mỗi gánh bảy mươi ký, mỗi ký hai trăm đồng, mỗi ngày anh gánh hai chuyến từ đỉnh xuống chân núi, có khi chuyến lên gánh thêm gạo, cát, đá, xi măng, gạch ngói. Bông vừa gánh thuê, vừa học nghề làm rẫy. Mấy năm sau, ba mẩu đất của anh đã thành một khu vườn. Từ đó Bông không còn đi gánh hàng thuê nữa mà gánh thành quả của chính mình. Cứ ba ngày đi một chuyến, mỗi chuyến kiếm ba bốn trăm ngàn. Thấy anh làm giỏi, chi cục kiểm lâm giao cho anh quản lý thêm 12 mẩu, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm mươi năm.

Mười năm sau kể từ ngày lên Núi Cấm, “chàng tiều phu” Nguyễn Tấn Bông đã tích lũy được vài chục cây vàng. Dì Ba giục anh đi cưới vợ. Tuổi đã sắp bốn mươi rồi. Bông cũng từng ước mơ trong căn nhà có thêm người phụ nữ, có tiếng cười tiếng khóc của trẻ thơ. Nhiều lúc trong chiêm bao, Bông thấy thấp thoáng một người vợ trẻ, tay ẳm con đứng chờ anh sau mỗi chuyến đi rừng. Nhưng người phụ nữ ấy là ai ? Mười năm sống ở đây, Bông chưa hề quen được một người bạn gái.

Thế rồi bổng dưng năm năm qua, ông trời cho Bông liên tục mười hai đứa con, mười trai hai gái, thành một bầy trẻ trong nhà. Câu chuyện như một huyền thoại lan truyền khắp rừng núi Thất Sơn. Và, qua mỗi ngọn núi, nó được thêu dệt thêm đôi chút. Khi chúng tôi lần mò lên tận đỉnh Mồ Côi, chứng kiến tận mắt, nghe kể tận tai mới biết rõ ngọn nguồn sự thật. Năm 2002, dì Ba với anh Bông về Cần Thơ thăm đứa cháu gái trong bệnh viện đa khoa. Tình cờ, dì nghe được câu chuyện khá thương tâm: có một thai phụ nghèo không có tiền nhập viện, chị ôm bụng ngồi khóc quằn quại trên ghế đá trước sân khoa sản. Anh Bông đưa dì Ba vào thăm, cho tiền và làm thủ tục cho chị ta nhập viện với tấm lòng thành, giúp người vượt cạn trong cảnh nghèo khó neo đơn. Sau khi thằng bé ra đời, người sản phụ kia quỳ lạy tạ ơn và nói ra sự thật: “Cháu ở trong quê, chồng chết, nhà nghèo phải đi làm phụ hồ để nuôi một đứa con. Nhưng vì nhẹ dạ nên cháu bị tay thợ hồ lường gạt. Giờ nếu ẳm con về thì không biết lấy gì nuôi . . .”. “Đây là năm chỉ vàng, đây là tám trăm ngàn, tôi giúp cô làm vốn mua bán kiếm sống. Còn thằng bé, tôi mang nó về đỉnh Mồ Côi trên Núi Cấm. Sau nầy nếu cô muốn nhận con thì cứ lên đó, tôi giao lại. Điện thoại của tôi là 0986544323”.

Trước khi ẳm thằng bé ra về, dì Ba để lại số điện thoại cho các bác sĩ và hộ lý của khoa sản cùng với lời căn dặn: “Từ nay về sau, nếu có trường hợp tương tự như vậy, các cô gọi điện cho mẹ con tôi. Trước hết là mình giúp người ta mẹ tròn con vuông, sau đó, nếu người ta vì lý do gì mà không nuôi con được thì mình đem về nuôi giúp”.

Câu chuyện bắt đầu là như vậy. Mỗi lần nghe điện thoại từ bệnh viện đa khoa, anh Bông, dù đang cuốc đất trồng khoai giữa rừng sâu cũng bỏ việc chạy về. Gọi đứa cháu qua giữ nhà, hai mẹ con lăng xăng xuống núi. Từ chân núi đi xe lôi qua thị trấn Tịnh Biên, từ Tịnh Biên đi xe đò lên Long Xuyên, rồi từ Long Xuyên lại đi xe đò qua Cần Thơ, một cuộc hành trình không đơn giản để làm một công việc độc nhất vô nhị trên đời. Cứ thế, sau mỗi cú điện thoại: “Em ở khoa sản, bệnh viện đa khoa cần Thơ. . .” là trong nhà anh Bông thêm một tiếng khóc trẻ sơ sinh. Anh Bông vừa cười vừa nói: “Trời khiến thế nào mấy ông ạ, năm 2005, tôi ẳm về năm đứa, mà năm ấy má tôi lại bệnh. Ối trời đất ôi, khuấy sữa, thay tả, tắm rửa, ca hát suốt ngày. Lại phải lên rừng hái măng, hai su gánh xuống núi, rồi mua tả giấy, mua sữa gánh lên. Nhưng vậy mà vui, đứa nào đứa nấy bụ bẩm ngon lành, không bệnh hoạn gì hết.”

Anh Bông kéo đám trẻ vào lòng, vừa xoa đầu, vừa kể về hoàn cảnh ra đời của từng đứa một: “Đây là thằng Nguyễn Sơn Giàu, đứa đầu tiên con của chị phụ hồ đây, nó đẻ bọc điều đó, thằng nầy không thành tỷ phú thì cũng làm quan. Còn đây là thằng Nguyễn Sơn Thanh, đẻ được hai ngày thì mắc bệnh phổi. Tôi với má tôi lên giúp một triệu đồng, nhưng không ngờ mẹ nó cầm một triệu đồng rồi bỏ trốn. Thằng nhỏ mới hai ngày tuổi mà phải thở oxy, ngậm ống sữa và truyền nước biển. Tôi với má tôi phải ở lại bệnh viện nuôi nó hai mươi ngày. Khi ẳm nó về, bác sĩ dặn mỗi tháng phải lên tái khám. Nhưng năm năm nay có tái khám lần nào đâu, mà nó cứ sân sẩn. Còn đây là thằng Nguyễn Sơn Hà, mẹ nó là một cô gái nghèo đi mót lúa ở Vị Thanh, phải lòng một thằng chăn vịt, mang thai lúc mới mười bảy tuổi, sợ bị phát hiện nên dùng dây thun nịt bụng rồi trốn sang ở nhà bà ngoại. Khi chúng tôi đến bệnh viện thì nghe nói nó bị đứt tim thai, phải mổ bỏ con để cứu mẹ. Nhưng không ngờ nó được cứu sống. Nó sống, nhưng mẹ nó không dám mang nó về nhà . . .

Mười hai đứa trẻ trong căn nhà nầy là mười hai câu chuyện khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ, chúng là kết quả của những cuộc tình vụn trộm từ trong nhà trọ đến màn trời chiếu đất ngoài đồng. Anh Bông kết thúc câu chuyện thứ mười hai bằng một nỗi buồn: “Nó là Nguyễn Sơn Thành, đang nằm trên núi. Khi tôi với má tôi đến thì mẹ nó đã bỏ đi, nó nằm trong phòng cấp cứu suốt hai mươi ngày với chứng bệnh não úng thủy, một chứng bệnh ngặt nghèo. Tôi với má tôi rất đắn đo, cuối cùng thì không thể quay lưng trước một hài nhi vô tội. Nhưng suốt ba tháng, thằng bé cứ khóc ngày khóc đêm, đầu to dần, mắt đờ đẩn. Tôi ẳm nó trở lại bệnh viện, nơi nó cất tiếng khóc chào đời, bác sĩ nói ở đây không có khả năng điều trị, tôi đưa nó lên bnh viện nhi đồng II, người ta nói phải phẩu thuật để đặt ông dẫn, sẽ rất tốn tiền nhưng không khả thi. Và đúng là như vậy, tôi đã bán miếng đất lấy mấy chục triệu đồng để mong nó sống, nhưng hơn hai năm sau thì nó đã ra đi”.

Qua câu chuyện buồn ấy, Bông lại ôm mấy đứa nhỏ vào lòng: “Tôi còn mười một đứa, chín trai, hai gái. Nhưng năm rồi, nhỏ em ở Cần Thơ lên chơi, thấy bé Cẩm Như đẹp quá, nó nói cho mượn về chơi mấy tháng, nói vậy rồi nó giựt luôn không trả, giờ con nhỏ đang học mẫu giáo ở dưới, lâu lâu gọi điện lên than nhớ cha, nhớ nội nhưng cô Út không cho về”. Sau mỗi câu nói như vậy là một tràng cười, tiếng cười nắc nẻ, hồn nhiên. Tôi hỏi anh định bao giờ cưới vợ, Bông lại cười: “Một bầy con như thế nầy, ai dám ưng tôi mới nể. Nói thì nói vậy thôi, chớ tôi biết chắc, giả dụ người ta có ưng mình đi chăng nữa thì làm sao người ta có thể thương con mình như mình được. Tụi nó đã khổ từ trong bào thai rồi, tôi không muốn tụi nó phải khổ vì mẹ ghẻ”.

Hỏi anh có định nuôi thêm nữa không, Bông trầm ngâm: “Má tôi năm nay bệnh nhiều quá, sắp gần đất xa trời rồi. Tôi muốn dành thời gian cho má”. Hỏi, chuyện học hành của mấy đứa nhỏ, anh tính sao. Bông lại trầm ngâm: “Thằng Sơn Ngọc năm nay lẽ ra phải lên lớp lá, thằng Sơn Thanh phải là lớp chồi, thằng Sơn Giàu phải là lớp mầm. Nhưng đây là đỉnh núi. Hồi ẳm chúng nó lên đây, mình cứ nghĩ cứu sống một hài nhi, không để chúng nó lăn lóc ở vỉa hè hay đầu đường xoá chợ. Nhưng bây giờ, nhìn mặt mày đứa nào đứa nấy sáng sũa, khôi ngô, những ánh mắt cứ như luôn nói với mình rằng, cha đừng để cho con dốt. Tôi đã tâm nguyện phải cho chúng nó học tới cùng. Tiền bạc thì tôi không lo, trước mắt, nguồn lợi từ mười lăm mẫu đất cũng đủ để trang trải, sau nầy, khi chúng nó học lên cao thì mình bán đất. Nhưng, cái khó là chổ ở. Thằng Sơn Ngọc năm tới sẽ tạm thời gởi cho nhỏ em ở Cần Thơ. Nhưng không thể gởi hết cả mười đứa. Còn mua nhà ở dưới đó thì ai chăm sóc, mà tôi đi thì ai ở đây lo vườn tược, cây trái cho mình. Càng nghĩ càng thấy rối . . .”

Thưa bạn đọc !

Câu chuyện cổ tích trên đỉnh Mồ Côi xin tạm dừng ở đây, bởi người kể chuyện chưa trả lời được câu hỏi sau cùng rằng: Khi bà Tiên qua đời, anh tiều phu có lo cho những thiên thần bé nhỏ ấy học hành đỗ đạt hay không ? Những câu chuyện cổ tích bao giờ cũng đi đến một kết thúc có hậu. Nhưng dân gian thường hay lý giải sự bế tắt bằng những phép màu. Và tôi hy vọng trong câu chuyện nầy, sẽ có một phép màu nào đó đến với anh Bông. Phép màu ấy chính là cái tâm, là lòng nhân ái đang ẩn chứa đâu đây, trên cõi đời nầy.

-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2008

CHUYỆN CỔ TÍCH VỀ ĐỨA CON NUÔI




Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác, nó nặng đến nỗi một người không thể mang nổi mà phải cần đến sự giúp đỡ của người khác. Anh giúp tôi, tôi giúp cho người khác, người khác lại giúp cho người khác nữa, và cứ như thế cho đến vô cùng. Sao cho cái chết của mỗi con người không đẩy chúng ta vào tình trạng cô đơn trong cuộc sống.

( DUMBATZÉ)

CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT

Chuyện kể rằng, cậu bé Nguyễn Hữu Ân là con trai út trong một gia đình có năm anh em ở khu Bào Trũng – ngọai ô thành phố Vũng Tàu. Cha mẹ Ân – ông Nguyễn Hữu Thiền và bà Hòang Thị Bích Vân – vì gia cảnh quá nghèo nên không thể cùng một lúc nuôi năm đứa con ăn học, cho nên khi Ân vừa học xong lớp sáu thì cha em gởi em lên chùa Tường Vân – huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng – để Ân vừa làm công quả, vừa tiếp tục học hành. Tuy mới mười hai tuổi nhưng Ân đã sớm ý thức được thân phận và hòan cảnh của mình. Chẳng những em không buồn mà ngược lại, em càng cảm thấy thương cha thương mẹ. Cứ mỗi hừng đông, cha em thức dậy hì hục bên đám rau muống sau nhà, cắt, tỉa, bón phân, chở từng bó rau ra chợ. Và cũng cứ mỗi hừng đông thì mẹ em đã khóac đôi gánh lên vai, cất tiếng rao như lời ru dọc dài trong xóm: “ Ai ăn bánh bò, bánh ích trần hôn . . . ?”

Khi ba người anh trai của Ân bước vào đại học thì từng thửa đất sau nhà cũng lần lượt ra đi. Đôi gánh của mẹ em cũng mõi mòn theo năm tháng.

Sáu năm miệt mài đèn sách, sáu năm lầm lũi quét lá đa, tưới kiểng, đánh chuông, tụng kinh, gõ mõ, Ân về quê làm hồ sơ thi đại học thì cũng là lúc mẹ em quằn quại trong cơn bệnh ngặt nghèo: ung thư trực tràng và ung thư gan ở giai đọan cuối. Năm anh em cùng với cha thay nhau đi tìm kiếm bà con, họ hàng để vay tiền, đưa mẹ vào Sài Gòn nhập viện. Nhưng không còn kịp nữa, ba tháng sau, người mẹ đã qua đời.

CÂU CHUYỆN THỨ HAI

Câu chuyện sẽ kết thúc với những dòng ngắn gọn trên đây nếu như những tháng ngày vừa nuôi mẹ, vừa ôn thi trong bệnh viện Ung bứu, Nguyễn Hữu Ân không có thêm người mẹ thứ hai, đó là: Má Phẳng !

Chị Phẳng sinh ra và lớn lên ở một vùng ven Buôn Ma Thuột. Cuộc đời chị là cả một cuộc đời buồn: Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, chị đã mất cha. Có lẽ vì mẹ chị đã “thề ở vậy nuôi con” nên khi lớn lên, chị cũng “thề ở vậy nuôi mẹ” mà không chịu lấy chồng. Đến khi giật mình nhìn lại thì tuổi đã quá năm mươi, sự cô đơn, nghèo khó đã đeo đẳng chị hết cả cuộc đời. Hai mẹ con, một căn chòi xiêu vẹo, một sào ruộng với mùa lúa mùa khoai. Ruộng không đủ sống, chị phải lên rừng lấy củi, lên rẫy làm thuê để nuôi mẹ già nay đau mai ốm. Vậy mà, “nhà sập bìm leo”: Trong lúc mẹ chị nằm liệt giường vì đau khớp thì chị nghe trong ngực mình có một khối u và từng cơn đau nhói. Ra tỉnh siêu âm, người ta nghi ngờ chị bị ung thư vú, chị vội vã vào Sài Gòn xét nghiệm thì kết quả không sai.

Bệnh viện ung bứu bảo chị phải nhập viện để mổ lấy khối u. Điều đó thật quá sức so với cảnh tình của chị. Tiền đâu để mổ ? Rồi ai nuôi mẹ già đang nằm liệt giường trong mấy tháng trời ? May thay, có một người hàng xóm tốt bụng đã tình nguyện chăm nuôi mẹ chị, còn chi phí nhập viện, chị bán sào ruộng được mấy chỉ vàng.

Năm 1992, phương pháp điều trị ung thư vẫn còn là vấn đề nan giải, cho nên sau khi mổ xong, chị Phẳng cứ bình thản về quê mà không lường được những hậu quả sau nầy. Suốt ba năm dài, chị cứ miệt mài làm thuê nuôi mẹ mà không hay rằng bệnh đang tái phát, đã di căn qua phổi, qua xương. Rồi một đêm trong căn chòi tối tăm, xiêu vẹo ấy, mẹ chị đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của chị – vòng tay của một người con đang lâm bệnh ung thư ! Một đám mà nghèo với chiếc xe trâu chở quan tài của mẹ, chị đầu đội khăn tang lũi thũi theo sau, đội mai táng là những người hàng xóm đưa mẹ chị về nơi an nghỉ cuối cùng.

Trong nỗi buồn đau cô quạnh, căn bệnh lại hòanh hành. Chị nghe hơi thở nặng từng cơn, đôi chân đau buốt. Không còn cách nào khác, chị bán vội mãnh đất thổ cư với căn chòi mục nát, lên mộ mẹ thắp một nén nhang rồi từ biệt xóm làng, từ biệt nơi chôn nhau cắt rốn, nặng nề từng bước lên xe đò vào Sài Gòn nhập viện. Đến đây, sau kết quả xét nghiệm chị mới hay rằng giữa chị với cái chết đang sắp sửa cận kề. Mạng sống được giữ lại bằng mấy liều hóa chất, nhưng đồng tiền không đủ cho chị đi đến toa thuốc sau cùng. Đành chịu ! Chị ngồi thẩn thờ bên gói hành lý nhỏ nhoi với hai hàng nước mắt. Giờ biết phải về đâu ? Về quê thì xem như không có đường về. Mà ở lại làm gì khi không còn tiền chữa bệnh ? “ Thôi thì má cứ ở lại đây. Giường nào trống thì cứ nghỉ, một bửa cháo, hai bửa cơm thì có bếp ăn từ thiện, chết thì cũng có tổ chức từ thiện chôn cất hẳn hoi”. Chị Thu Nga, hộ lý của khoa khuyên chị như thế. Chị không hiểu vì sao chị Nga lại tốt với mình như một người thân. Một má Phẳng, hai má Phẳng. Tới tháng lương, chị Nga nhỏ to với các y bác sĩ trích lại cho má Phẳng một ít tiền. Rồi tới kỳ hòan máu, ai cũng có những người thân tiếp máu người thân. Thấy chị Phẳng tủi thân ngồi khóc, chị Nga lại tự nguyện hiến máu của mình.

CÂU CHUYỆN THỨ BA

Ông Thiền ở nhà chạy tiền chạy gạo, Ân cùng với bốn anh trai túc trực trong bệnh viện nuôi mẹ trong cảnh nghèo khó tột cùng mà căn bệnh của bà Bích Vân thì không còn đường cứu chữa. Lúc bấy giờ, bệnh viện quá tải, người bệnh người nuôi chen chút nhau, không đủ chỗ nằm, chị Phẳng phải nằm chui dưới gầm giường của bà Bích Vân. Trong những ngày sức khỏe tạm thời ổn định, chị Phẳng đã sẻ chia, chăm sóc bà Vân, làm thay những công việc mà con trai không làm được. Hai người đã trở thành bạn thân với nhau tự lúc nào không biết. Bà Vân chừng như hiểu được nỗi khát khao của chị Phẳng về cái hạnh phúc của một người mẹ sắp lìa đời trong sự ấm áp tình thương của năm đứa con trai hiếu thảo. Bà hay nói với Ân: “Khi mẹ chết rồi, con hãy lo cho má Phẳng như mẹ ruột của con”. Rồi bà nói với chị Phẳng: “Nếu tôi đi trước, chị đi sau, chị hãy coi thằng Ân như con của chị”.

Chẳng hiểu sao, lúc ấy chị Phẳng trở nên khỏe mạnh lạ thường, chị đóng vai trò chỉ huy năm anh em của Ân trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng bà Vân. Kể cả khi bà Vân qua đời, chị cũng ra tận Vũng Tàu lo mai táng.

CÂU CHUYỆN THỨ TƯ

Mẹ Ân mất vào tháng bảy năm 2002. Năm ấy Ân thi rớt đại học.

Sau tết, em trở vô Sài Gòn để tiếp tục ôn thi. Ghé vào bệnh viện Ung bứu, Ân thấy má Phẳng nằm liệt dưới gầm giường, người xanh xao, đôi chân không còn cử động. Không một chút đắn đo, Ân ở lại dưới gầm giường với má. Tại đây, Ân vừa ôn bài, vừa chăm lo cho má Phẳng. Sau bốn giờ sáng, em thức dậy xuống bếp từ thiện nấu cháo với các sư cô chùa Bảo Vân. Xong, em trở lên làm vệ sinh cho má – những công việc mà trước đây, với mẹ em, má Phẳng đã làm thay. Bây giờ, bao nhiêu hiểu biết, bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy trong những tháng ngày nuôi dưỡng mẹ mình, em đã dành cho má Phẳng – từ cơm cháo, thuốc thang, tắm giặt. Trong đó, có cả sự khát khao làm mẹ mà má Phẳng đã từng nói bằng ánh mắt với mẹ em.

Cứ thế, rồi đến một ngày, câu chuyện ấy được kể lại trên một tờ báo. Chị Phẳng đã vượt qua cơn đau bởi những tấm lòng hảo tâm bằng những liều hóa trị. Có một anh kiến trúc sư tên Nguyễn Văn Trung đã vào bệnh viện tìm Ân để giúp em ôn thi. Trung nói, mẹ anh cũng chết vì ung thư lúc anh mới lên mười hai tuổi, giờ anh muốn làm một điều gì đó để chia sẻ với Ân. Hàng đêm, dưới ánh đèn công cộng, trên chiếc ghế đá trong khuôn viên bệnh viện, bên con đường Nơ Trang Long xe cộ ồn ào, có hai mái đầu chụm vào nhau trên trang sách. Mùa thi ấy, Ân đã vào đại học.

Hơn một năm dài, sau giờ tan học, ai nấy đều trở về nhà trọ hoặc nhà mình. Chỉ có Ân lầm lũi trở về dưới gầm giường trong bệnh viện. Ăn những bửa cơm từ thiện, uống nước từ thiện, mọi sinh họat, học hành gắn trong một thế giới của bệnh tật, của đau đớn, rên la và chết chóc. Rồi bệnh viện quá tải đến mức gầm giường cũng không đủ chỗ cho bệnh nhân, buộc Ân phải đưa má Phẳng ra nhà trọ.

Tôi tìm gặp lại Ân, bây giờ em đã là sinh viên năm thứ ba. Ân trắng trẻo, đẹp trai và lúc nào cũng nở một nụ cười nhân hậu. “Năm ngóai – Ân nói – khi phân chuyên ngành, em chọn ngành văn hóa. Nhưng ngành văn hóa chỉ có một lớp buổi sáng, mà buổi sáng thì em phải đưa má vào bệnh viện nên không học được. Cuối cùng em chọn ngành du lịch để học buổi chiều”.

Ân đi rồi, chị Phẳng nằm bẹp một mình trong căn phòng trọ, nước mắt rưng rưng. Chị nói: “ Nó đi rồi tôi mới dám khóc, sợ nó thấy nó rầy. Khổ vậy mà lúc nào cũng thấy nó cười. Tan học về tới nhà là nó la lên: “ Con về nè má ơi”. Rồi nhào vô xoa bóp chân, rồi hỏi han đủ thứ. Hôm nào kẹt xe về trể là nó lo, nó lo vì nó sợ tôi lo. Đêm nào nó cũng thức học bài cho đến một hai giờ khuya, vậy mà nó vẫn dậy sớm, đỡ tôi ngồi dậy, lấy nước, lấy bàn chải, nặng kem, nấu nước nóng cho tôi lau mình rồi lui cui làm đồ ăn sáng. Dạo nầy mỗi tuần tôi chỉ đi bệnh viện một lần nên nó mới đi học thêm tiếng Anh, tiếng Hàn, vi tính . . .”

Tôi đâm ra thắc mắc: Với mức thu nhập tối đa mỗi tháng 900 ngàn đồng ở một nhà hàng tiệc cưới, nơi Ân làm việc ca đêm thì làm sao có thể nuôi nổi một người mẹ ốm đau, rồi tiền trọ, tiền học phí, tiền ăn . . . Ân lấy gì để học thêm tiếng Anh, tiếng Hàn và vi tính ? Trong khi bốn người anh của Ân đã tốt nghiệp đại học mà đồng lương vẫn còn bấp bênh, lại phải nuôi cha đang bệnh ở quê nhà. Chị Phẳng nói: “ Hình như mọi thứ đều do bên chùa Bảo Vân họ giúp “

Sư cô Như Giác, quản trị chùa Bảo Vân ở Bình Thạnh kể: “ Tôi biết Ân trong một dịp tình cờ khi lên chùa Tường Vân ở Đơn Dương, thấy một cậu bé vừa chăm học lại vừa siêng năng làm công quả. Lúc ấy em nói em vừa muốn đi tu lại vừa có khát vọng học hành. Tôi khuyên em phải cố gắng học đến nơi đến chốn rồi sau nầy theo đạo hay theo đời cũng đều tốt cả. Vậy rồi mấy năm sau, cũng tình cờ thấy em tham gia nấu cháo từ thiện trong bệnh viện Ung bứu, hỏi ra mới biết em vừa ôn thi vừa nuôi má Phẳng. Từ đó chúng tôi đưa em vào trong chương trình từ thiện của nhà chùa, có một gia đình Phật tử nhận giúp đỡ em. Trong câu chuyện của em và má Phẳng, người đời cho rằng đó là cái tâm, là sự tốt bụng và lòng nhân ái. Còn theo triết lý nhà Phật thì đó là một nhân duyên, biết đâu họ đã là mẹ con với nhau từ kiếp trước”.

Tin vào triết lý ấy hay không tin, điều đó tùy tôi và tùy bạn. Nhưng trước mắt tôi, chị Phẳng, chị Thu Nga, Hữu Ân và sư cô Như Giác là những con người có thật đang hiện hữu giữa cuộc sống nầy.



-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2008

ĐẤT LÊN, TÌNH NGƯỜI XUỐNG





Phân lô bán nền làm tan nát những vườn cau


Đọc bài “Đất lên, tình người xuống” trên SGTT số 34, tôi cứ nghĩ rằng có lẽ tác giả cũng “ám chỉ” tôi khi mà cuộc sống ngày thường với bao lo toan bon chen, cơm áo gạo tiền khiến chúng ta có lúc như quên mất đi tình nghĩa con người với con người. Đó là tình cảm gia đình, tình hàng xóm láng giềng và cả tình bạn . . . Khi có vấn đề tiền bạc xen vào, những tình cảm dường như thiêng liêng ấy lại chẳng còn giá trị là bao (!?). Cảm ơn tác giả, cảm ơn SGTT đã có những bài báo hay, lay động lòng người, khiến chúng ta phải bình tâm để quay về với những giá trị thiêng liêng, không tiền bạc gì mua được. . .

( Hà Quỳnh Như – Gò Vấp )

Hơn nửa thế kỷ trước, khi đặt chân đến vùng Bà Điểm, Hóc Môn nầy để khẩn hoang, trồng trầu trồng cau lập nghiệp, hẳn ông Hai Bình – cũng như nhiều cư dân khác – không thể hình dung ra rằng một ngày nào đó, mỗi mét vuông đất ở đây sẽ được tính bằng vàng chỉ, vàng cây. Từng thập niên trôi qua, Mười Tám Thôn Vườn Trầu đã trở thành một địa danh lừng lẫy khắp Nam kỳ lục tỉnh, là biểu tượng cho thiên-thời-địa-lợi-nhơn-hòa của Sài Gòn-Gia Định. Ông Hai Bình hiểu và lấy làm tự hào về điều đó, cho nên, khi tám người con của ông lần lượt trưởng thành, gã chồng hay cưới vợ, ông cất cho một căn nhà bên cạnh để ra riêng. Ước nguyện của ông là sẽ có một xóm nhà mà trong đó toàn là những người ruột thịt để cộng hưởng cái hòa khí của làng mạc, đất đai. Nhưng ước nguyện ấy đã không thành. Khi bến xe An Sương mở ra, cầu vượt An Sương mở ra, con đường xuyên Á mở ra, cả bốn bề là đô thị, đất đai lên cơn sốt, người ta ầm ầm sang bán. Ông A, ông B, ông C gần đó, cả đời ky cóp từng đồng từng cắc, nghèo xác nghèo xơ, giờ cắt bán vài cái nền nhà đã trở thành tỷ phú. Con cái ông Bình sầm xì rằng năm ngàn mét vuông đất của ông bây giờ giá chót cũng gần ba mươi tỷ, nếu chia đều ra thì mỗi người cũng ngót nghét hai trăm lượng vàng. Biết trước sẽ có chuyện chẳng lành, ông Bình họp các con lại bảo: “ Xưa nay ba không có ý định chia đất, ba muốn các con sống chung và xem đất nầy là của chung, để con cháu tụi bây sau nầy lập gia đình cũng có đất cất nhà. Nhưng giờ ba thấy tình hình không ổn nên ba quyết định chia đều cho tám đứa bằng nhau, cứ phân ra thành tám lô rồi bốc thăm, đứa nào trúng lô nào thì lấy lô đó”. Nhưng quyết định của ông Hai Bình đã muộn. Chị Nguyễn Thị Phượng, người con gái thứ tư phản đối : “Phần tôi hai ngàn mét vuông, tôi đã canh tác bốn chục năm nay, chồng tôi đứng tên khai thuế từ năm 1975 đến giờ, tôi không chia cho ai hết”. Thấy chị con đông, anh em trong nhà thống nhất chia cho chị tám trăm mét vuông, nhưng chị kiên quyết không chịu. Thất vọng, buồn tủi và bất lực, ông Bình sinh bệnh và chết. Những cuộc tranh chấp tiếp tục diễn ra. Chị Phượng phân lô bán nền, anh em ngăn cản. Đất tranh chấp không ai dám mua. Chị cất nhà trọ. Anh em cầm búa ra đập tường. Hai bên ấu đả lẫn nhau. Những cuộc hoà giải của chính quyền xã không thành. Đất vẫn là đất nhưng lạnh lùng, tê buốt và luôn ẩn chứa mầm móng của chiến tranh. Mạnh ai nấy làm hàng rào, bít cả lối đi. Tôi chạy xe vào nhà chị Phượng phải leo vòng lên hàng ba của nhà người khác. Dường như có ai đó hiểu rằng tôi đi xác minh để bênh chị Phượng. Một người phụ nữ tranh thủ đến nói nhỏ với tôi, giọng lạnh lùng và nghiêm khắc: “Cậu làm báo thì phải khách quan, phải hiểu rõ nguồn gốc của đất nầy trước khi viết báo”. Chị nhìn thẳng vào tôi rồi lặng lẽ bỏ đi.

Khác với cách tính toán của ông Hai Bình, bà Trần Thị Hớn cũng có tám người con nhưng tất cả được bà nuôi cho học hành đỗ đạt thành một gia đình trí thức có tiếng trong vùng. Bà có 1500 mét vuông đất hương hỏa. Năm 1999, bà làm tờ tương phân cho tám người con, mỗi người từ 120 đến 150 mét vuông, riêng bà giữ lại 480 mét vuông để dưỡng già. Theo quan niệm chia tài sản của người xưa, giàu Út ăn, khó Út chịu, hơn nữa bà sống với con trai Út nên trước khi qua đời, bà lên xã lập giất ủy quyền phần đất của bà cho người con trai Út để anh nầy lo thờ cúng tổ tiên. Thế nhưng, hai năm sau khi bà Hớn qua đời, bảy anh chị của Út làm đơn kiện lên xã đòi chia thừa kế phần đất dưỡng già của mẹ, mỗi người 59 mét vuông. Trong cuộc họp hoà giải tại xã, họ cho rằng mặc dù Út ở với mẹ nhưng nuôi mẹ thì tất cả cùng nuôi, có người lật sổ tay đọc vanh vách những ngày tháng và các khoảng chi phí họ đi nuôi mẹ trong bệnh viện Trưng Vương. Anh cán bộ tư pháp xã nói rằng: “Hòa giải cho bà con nông dân thì dễ, còn hoà giải cho những người ăn học cao hơn mình rất khó, cuối cùng chúng tôi phải chuyển hồ sơ lên toà án huyện, xử sơ thẩm không xong, huyện chuyển hồ sơ lên cấp phúc thẩm, chưa biết kết quả ra sao, nhưng dù có ra sao đi nữa thì mình cũng không ngờ nỗi những điều như vậy có thể xảy ra ở những người mệnh danh là kỷ sư, nhà giáo”.

Chúng tôi tìm đến nhà của ông Nguyễn Quốc Hưng theo tờ đơn ông tố cáo người con trai út của ông, anh Nguyễn Quốc Khang. Ở xứ Bà Điểm nầy, ông Hưng từng nổi tiếng là một người giàu có, nhiều ruộng nhiều vườn. Theo ông trình bày, ông có bốn người con, hai thửa đất ở xa lộ Đại Hàn và Trung Chánh ông chia cho ba người con lớn. Khang là con trai útt nên ông ở với Khang trên phần đất hương hỏa 2500 mét vuông cùng với ngôi nhà ngói ba gian thờ cúng ông bà. Thế nhưng vợ chồng Khang bất hiếu, ngược đãi ông, thậm chí đánh đuổi ông ra khỏi nhà để giành đất. Tức giận, ông cắt cho Khang 900 mét vuông ra ở riêng nhưng Khang vẫn không chịu, đòi giành trọn phần đất của ông.

Câu chuyện tưởng vậy mà không phải vậy. Ngồi đối diện với tôi là một ông già lẩm cẩm trên tám mươi tuổi và anh con trai hiền lành bốn mươi sáu tuổi. Khang nói: “Tôi là con trai út, nhận nuôi cha trên đất hương hỏa là chuyện bình thường. Nhưng từ khi đất đai lên giá, ổng cứ phân lô bán nền liên tục để lấy tiền cung phụng cho bà bán vé số ở xóm trên. Ổng nói rằng ổng có con với bà ấy. Thử hỏi anh, ổng tám mươi hai tuổi rồi mà có con trai năm tuổi, liệu có tin được không ?”. Ông già quát: “Tổ cha mầy, không phải con tao sao nó thương tao, thỉnh thoảng nó tới ngủ với tao ?”. Khang thở dài: “Tôi ngăn cản không cho ổng bán đất, ổng đuổi tôi ra khỏi nhà, tôi cất nhà bên cạnh, ổng rào lại không cho tôi qua để ở một mình cho dễ bề quan hệ với bà kia”. Ai đúng ai sai trong câu chuyện giữa hai người chưa phân giải. Nhưng nhìn những tấm mê bồ, những cây tre và những sợi kẽm gai ngăn cách tình cha con, ai cũng thấy não lòng.

Chị Cúc Hương, cán bộ tư pháp xã Bà Điểm nói rằng, ông bà xưa chia đất cho con cháu không phải đo đạc phân lô, có khi chỉ nói đại khái miếng A, miếng B nào đó, hoặc lấy cái bờ, con mương làm ranh giới. Nhưng rồi khi giá đất vọt lên một mét vuông năm bảy triệu đồng thì một vài tấc ranh cũng làm cho gia đình tan nát. Có những ranh đất chỉ đôi ba tấc thôi mà cán bộ tư pháp xã hòa giải suốt năm sáu năm vẫn không thành, anh em ruột thịt lại kéo nhau lên toà án huyện. Về pháp lý, cái ranh giới đất thì đã khó xác lập, còn cái tình thì đến đời con cháu họ cũng chưa chắc gì xóa được sự cách ngăn. Đất Hóc Môn là đất vốn có truyền thống dòng tộc lâu đời. Bởi vậy xưa nay ngày giổ ở đây luôn được coi là quan trọng, là ngày tề tựu họ hàng thân tộc, cháu con, chòm xóm. Nhưng bây giờ, sau những vụ tranh chấp đất đai, có nhiều gia đình đến ngày giổ ông bà thì mạnh ai nấy cúng, ngôi nhà thờ trở nên vắng vẻ, lạnh lùng.

Anh Thanh Hà, cán bộ thi hành án huyện Hóc Môn nói với tôi: “Nếu có dịp, anh đến ngồi dự các phiên tòa dân sự về những vụ tranh chấp đất đai trong họ hàng thân tộc, anh sẽ thấy rằng, đất càng lên giá bao nhiêu thì tình người càng xuống giá bấy nhiêu”.

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2008

NƯỚC MẮT NGƯỜI GIÀ




Anh Lê Công Hùng, Giám đốc Trung tâm nuôi dưỡng người già & tàn tật Thạnh Lộc cho biết, ở đây có gần ba trăm cụ già đến từ mọi miền đất nước, khó mà biết được sự thật cuộc đời của các cụ ra sao vì trong hồ sơ chỉ khai một cách chung chung rằng hoàn cảnh neo đơn, không nơi nương tựa, không có người thân, tứ cố vô thân. Thế nhưng, qua những câu chuyện tâm tình giữa các cụ mà nhân viên ở đây vô tình nghe được thì đa số các cụ từng có một mái ấm gia đình, có con cháu hẳn hoi nhưng vì bị chúng ngược đãi đến mức phải ra đi, sống lang thang nơi đầu đường xó chợ, đến khi sức cùng lực kiệt, chính quyền địa phương gởi vào đây.

*

Ông Huỳnh Sương, 76 tuổi, cán bộ hưu trí ở quận 5 đã vào đây sống hơn mười năm. Ban đầu, ông khai là người tứ cố vô thân, không nơi nương tựa. Nhưng rồi những tâm sự của ông với những người bạn già vào những chiều, những đêm trên băng đá, người ta mới biết được rằng cụ đã có những người con thành đạt, thậm chí đang có chức có quyền. Khi chúng tôi bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ thì nước mắt cụ rưng rưng và bộc bạch những lời tâm sự, rằng cụ có tất cả sáu người con, một là thượng tá cảnh sát giao thông, một là trung tá săn bắt cướp, một đang dạy tin học tại một trung tâm lớn trên đường Pasteur, một là cán bộ toà án quận, một là trung úy cảnh sát hành chánh, một là nhân viên bán vật liệu xây dựng. Hỏi vì sao cụ lại vào đây, cụ ngập ngừng nói: “Tôi không muốn làm phiền con cái”. Hỏi vì sao cụ cố giấu nhân thân, cụ nói: “Sợ ảnh hưởng đến công tác của các con, sợ mấy đứa cháu nội, cháu ngoại biết được, chúng nó buồn phiền, nghĩ xấu về cha mẹ nó”.

Chỉ có vậy. Chúng tôi cố hỏi thêm về chuyện quan hệ gia đình, ông chỉ cúi đầu im lặng. Hỏi quẩn hỏi quanh chuyện nhà cửa, ông lại vô tình hé ra chi tiết: cách nay vài tháng, có một người khách đến rước ông về phường để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng căn nhà thuộc sở hữu của ông nhưng do con gái ông đứng ra sang bán. Ông nói: “ Miễn sao nó nuôi con cái ăn học đàng hoàng là được rồi, tôi đâu cần gì nữa”.

Anh Lê Công Hùng cho biết, có lần anh kể về những người con của ông Sương trong một phóng sự truyền hình, sau đó anh nhận được những cú điện thoại với những lời răng đe, hăm doạ.

Khác với ông Sương, ông Huỳnh Văn Mỹ, 83 tuổi, vừa nhập trại cách đây hai năm đã không chút ngần ngại khi kể lại số phận của mình. Vợ chồng ông sống với con gái và ba đứa cháu ngoại trong một con hẻm trên đường Đề Thám, quận Nhất. Khi người con rể ông ở bên Mỹ gởi tiền về để xây nhà thì con gái ông bảo ông sang tên, ông nghĩ trước sau gì thì cũng là của con nên ông không ngần ngại ký giấy sang tên cho con gái. Nào ngờ nhà vừa xây xong vài tháng, con gái ông chết vì bệnh ung thư, lập tức ba đứa cháu ngoại ném cho ông hai ngàn đô-la rồi đuổi vợ chồng ông ra đường. Không đi thì chúng bỏ đói, mắng chửi, đánh đập và lăng nhục. Cùng đường, vợ chồng ông cầm hai ngàn đô-la qua quận Hai thuê nhà trọ. Ơ được vài năm thì vợ ông lâm bệnh, tiền bạc không còn. Không chịu đựng nổi đắng cay, cả hai vợ chồng tự tử. Nhưng ông được cứu sống, còn vợ ông thì vĩnh viễn ra đi. Ông về nhờ chùa Thiên Hậu ở cạnh ngôi nhà cũ lo hỏa táng cho vợ ông. Xong, ông xin vào trung tâm dưỡng lão. Ông ngậm ngùi nói: “ Không hiểu sao, cả ba đứa cháu ngoại tôi đều có học, thậm chí học rất giỏi, một đứa vào đại học, hai đứa đang học cuối cấp ba mà sao chúng nó lại xử sự với ông bà như vậy !”

Anh Hùng cho tôi xem bộ hồ sơ của một người quá cố, có lẽ đây là một hồ sơ duy nhất thể hiện khá rõ về tấn thảm kịch của một con người: Ông Nguyễn Đình Chiến, sinh năm 1919 ở phường 26 quận Bình Thạnh, sau khi bán căn nhà mấy chục lượng vàng để chia thừa kế cho năm người con, ba gái hai trai, cứ tưởng họ sẽ thay phiên nhau nuôi dưỡng ông như đã hứa. Nhưng rồi vài tháng sau, cả năm người con cứ đùn qua đẩy lại. Buồn chán, ông lang thang ra hè phố làm kẽ ăn mày. Chính quyền địa phương đã năm lần mời họ đến lập biên bản, buộc phải có trách nhiệm nuôi dưỡng người cha. Nhưng rồi đâu lại vào đấy. Một đêm nọ, người ta phát hiện ông Chiến nằm ngất xỉu trên vĩa hè vì đói khát. Chính quyền địa phương đưa ông đi cấp cứu rồi làm thủ tục gởi ông lên Trung tâm Thạnh Lộc. Thế nhưng gần hai tháng sau, khi ông Chiến qua đời, cả năm người con của ông kéo lên khóc lóc và tranh giành tử thi để đem về mai táng. Trong lúc giành nhau, có một người khôn ranh hơn đã đưa ra giấy chứng nhận của chính quyền địa phương rằng anh ta là con ruột nên được ưu tiên nhận xác cha. Lúc mang ra taxi, do thi hài ông Chiến đã cứng nên người thừa ra ngoài gần một nửa, người con trai ấy đã vội vã đến mức không ngần ngại bẻ quắp đôi chân người cha ém vào, đóng sầm cửa lại và cho xe nổ máy. Cả Trung tâm nhìn theo, ai cũng lắc đầu rơi nước mắt. Một người con trai còn lại gặng hỏi anh Hùng rằng: “ Lúc cha tôi vào đây, nghe nói có một doanh nghiệp cho hai triệu đồng, giờ còn được bao nhiêu ông trả lại cho tôi !”

Anh Hùng nói rằng, trên ba trăm cụ già ở đây là trên ba trăm câu chuyện đời đầy bi kịch nếu như có máy ghi âm đặt bên các băng ghế đá để thu lại những dòng tâm sự của các cụ vào những buổi chiều. Một trong những câu chuyện mà anh vô tình nghe rất nhiều lần là ông Trương Văn Minh, 80 mươi tuổi, đến từ Tân Tạo,Bình Chánh. Cả đời ông sống bằng nghề nông lam lũ, nuôi con lớn khôn bằng cây lúa cọng rau. Thế rồi đùng một cái, các khu công nghiệp mọc lên, đất đai sốt giá, làng xóm ùn ùn thi nhau bán đất, các con ông cũng bị lăn tròn vào cơn sốt ấy. Chúng kéo nhau thúc bách ông một hai phải bán. Bán xong, chúng ấu đả chửi bới, đánh đập nhau để tranh giành quyền lợi. Xong, mỗi đứa ném cho ông vài trăm ngàn đồng rồi đẩy ông vào đây. Hai năm sau, ông lâm bệnh nặng và qua đời trong bệnh viện.

Hỏi, gần năm năm làm Giám đốc Trung tâm, anh tâm đắc những gì về chuyện thế thái nhân tình ? Anh Lê Công Hùng nói, tâm đắc thì nhiều lắm, mỗi một ông cụ, bà cụ đến đây đều mang theo những thước phim đời đầy nước mắt. Nhưng điều day dứt hàng năm là những ngày tết đến, khi đón giao thừa, Trung tâm tổ chức lửa trại cho các cụ quây quần lại với nhau, nghe Chủ tịch nước đọc thư chúc mừng năm mới, chúc cho mỗi gia đình được no ấm, yên vui và hạnh phúc. Lúc ấy, trên gương mặt gìa nua, nhăn nheo của các cụ ánh lên hai dòng nước mắt lăn dài. Lúc ấy, mấy chục anh chị em của Trung tâm dù cố kềm chế cũng phải khóc theo.

Nghịch lý thay – anh Hùng nói – chính giờ phút ấy lại là niềm vui trọn vẹn của mỗi gia đình trong xã hội.

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2008

TRỞ LẠI U MINH




Từ phải sang: TS Nguyễn Thanh Toại, nhà báo Võ Như Lanh, chị Thiện cùng với tôi và nhà thơ Đỗ Trung Quân trước căn nhà chị Thiện.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Toại, nhà báo lão thành Võ Như Lanh, nhà thơ Đỗ Trung Quân cùng tôi về Cà Mau trao tiền cho chị Thiện. Một chuyến xe chở nặng ân tình. Chị Cúc, vợ anh Toại, ngoài việc gởi một ít tiền cho chị Thiện còn gởi một thùng bia ướp lạnh cho chúng tôi giải khát dọc đường. Anh Toại trực tiếp lái xe và tài trợ toàn bộ chi phí cho chuyến đi.

Từ xã Khánh Lâm, chúng tôi thuê xe ôm đến căn chòi của chị Thiện. Nhưng thất vọng khi thấy nhà khóa cửa. Anh xe ôm nói chị mới lấy chồng, chắc đã trở về căn nhà cũ để cùng chồng làm ruộng. Một người hàng xóm nói thằng Hận cũng đã theo chị về trong ấy, hàng ngày nó ra đây đi học rồi lại trở về. Nghe tin chị lấy chồng, một anh xe ôm cười nói: “Cái bà nầy vẫn chưa tởn đàn ông”. Một anh xe ôm khác nói: “Cũng tội cho bả, con cái đi hết rồi, vừa buồn vừa khổ, có người bạn đời cũng là chuyện tốt thôi”. “Lại đẻ con, rồi lại khổ”. “Năm mươi mấy rồi, đẻ con khỉ khô gì nữa”.

Chúng tôi phải đi thêm một đoạn xe ôm nữa rồi thuê đò dọc chạy vào nhà chị Thiện. Một anh xe ôm sau khi tìm được số điện thoại của chị, đã thông báo trước và tình nguyện dẫn đường. Anh Duy Khang cho biết, có ai đó cho chị cái điện thoại bèo với cái sim khuyến mãi. Ở cái xứ khỉ ho cò gáy nầy, xem ra có điện thoại di động cũng là một giải pháp tối ưu để rút ngắn khoảng cách giữa con người với nhau.

Bảy năm trở lại U Minh, mọi thứ đều xa lạ, chỉ có cái nghèo là không thay đổi. Hồi trước tôi đến nhà chị Thiện bằng ca nô, anh tài công biết đường nên từ thị trấn đến nhà chị chỉ hơn mười phút. Bây giờ đi mất hơn nửa giờ, một chặng đường ô tô, một chặng xe ôm, một chặng đò dọc, ngoằn nghèo qua xóm làng, kinh rạch. Chị Thiện ra đón dưới bờ kinh. Trông chị chẳng khác xưa chút nào, có phần tươi vui hơn, có lẽ vì mới lấy chồng, có lẽ vì thấy chúng tôi đến thăm và chia sẻ với cái khổ, cái nghèo của chị. Thấy căn nhà gỗ mới cất, khá hơn cái chòi lụp xụp năm nào, tôi hỏi cất lâu chưa, chị nói nhà tình thương của huyện cho hồi năm ngoái. Hỏi chuyện lấy chồng, chị nói anh Tháo ở cách đây không xa, thôi vợ cũng lâu rồi, đeo đuổi chị mấy năm nay, chị không chịu, giờ thấy bốn đứa con ảnh đã lớn, tất cả đều đi Sài Gòn làm công nhân, ảnh ở nhà một mình, tội nghiệp quá. Thôi thì một người thiếu một nửa, ráp lại, một người lo cơm nước, nuôi heo gà vịt trong nhà,một người lo chuyện ngoài đồng. Thế cũng vui. Hỏi ảnh đâu, ảnh đang nhổ mạ sau nhà. Hỏi thằng Hận đâu, nó đi học. Để nó ở ngoài chòi cũ, gần trường được mấy bữa thì thấy phức tạp, mấy đứa thanh niên hư hỏng tới ngủ nhờ, ép nó nhậu say rồi ăn cắp hết đồ đạc, mặc dù chẳng có gì đáng giá. Hoảng quá, chị đem nó về. Nhưng đi học xa quá, phải lội bộ mấy cây số mới tới đường xe đạp.

Tôi trao cho chị một số tập vỡ, bút mực, bút chì, mấy cái áo và số tiền 16.850.000 đồng, cộng với số tiền 7.000.000 đồng Duy Khang trao hôm trước. Hơn hai mươi triệu đồng, số tiền không nhỏ đối với chị, thậm chí chị chưa bao giờ có trong đời. Chị không biết nói gì ngoài mấy tiếng cảm ơn mà giọng thì run run lắp bắp. Tôi nói đây là số tiền bạn đọc khắp nơi, trong nước, ngoài nước gởi chị, nhưng không phải cho chị mà cho cháu Hận có điều kiện để học hành. Người ta sẽ lo cho cháu Hận học tới đại học, vì vậy, nếu chị để cháu bỏ học giữa chừng là chị phụ lòng tốt của bà con, những người thương chị. Chị Thiện hứa,tuy không hứa hẹn nhiều lời nhưng tôi tin chị tâm đắc những điều tôi nói.

Trên đường về, nhìn những căn chòi xiêu vẹo hai bên bờ kinh, tôi tự hỏi, còn bao nhiêu chị Thiện trên cõi đời nầy ?

Anh Toại tỏ ra lo lắng cho chị Thiện, anh nói lẽ ra mình giao cho chị cuốn sổ tiết kiệm thì an toàn hơn. Nhà cửa trống trơ giữa vùng sâu hiu quạnh, đã từng có những án mạng xảy ra chỉ vì năm bảy trăm ngàn.

Buổi tối, chị Thiện gọi điện hỏi tôi, ở huyện chỉ có ngân hàng nông nghiệp, nơi chị mắc nợ cả vốn lẩn lãi hơn 70 triệu đồng, nếu gởi vào đó lỡ họ thu hết thì sao. Tôi nói chị nên ra Cà Mau gởi vào ngân hàng công thương, vì đó là tiền người ta giúp cho cháu Hận đi học chớ không phải là của chị. Chị nói sáng thứ hai nầy chị sẽ đi gởi, “anh yên tâm đi, tôi không xài bậy để phụ lòng mấy anh đâu”.

-->đọc tiếp...